Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2009

sự thật thế nào ... nqv

Sống trong một đất nước gọi là dân làm chủ , chúng ta có thể tìm hiểu tất cả và chạy theo những gì mà chúng ta cho là hạp ý ...
Để tìm hiểu thêm sự thật về người và sự việc chúng tôi mời bạn theo dõi và đánh giá những tài liệu sau đây.

Sự nhận xét tùy thuộc vào bạn
. Mời bạn vào đây

Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2009

Người Chủ Chăn đàn chiên... nqv

Mục tử là người chăn đàn chiên ,chăm sóc , vỗ về , hướng dẫn , dạy dỗ và hơn thế nữa ... mời bạn xem :

Tìm hiểu Công Giáo ... Đức Ông ...

Đức Ông là gì ?

Thua cha, xin cha cho con biet cac Duc Ong o ben toa thanh thi giu chuc vu gi trong Giao Hoi: Duc Ong co phai la linh muc, giam muc..... khong a. Con cam on cha

Bạn Nguyễn Công Diệu thân mến!

Đức ông là người có công với tòa thánh trong một công việc nào đó, và và được tòa thánh phong cho tước hiệu đức ông. Vì thế, đức ông không phải là chức thánh.

Đức ông có thể là linh mục, và có thể là giáo dân.

sự khác biệt giữa phép chuẩn và phép giao
kinh thua cha! con kg biet phep' chuan va phep giao co giong nhau khong? neu phep chuan va phep giao khac nhau thi khac nhau trong hoan canh nao? truong hop nao thi ta duoc dung phep chuan va truong hop nao thi duoc dung phep giao. xin cho con biet? con cam on nhieu con mong tin tra loi` gap con 1 lan nua xin cam on
Câu trả lời
Bạn thân mến!

“PHÉP CHUẨN” là phép của giáo quyền chuẩn chước để được thành hôn với nhau, giữa một người đã chịu phép Rửa Tội và một người chưa được rửa tội.
“PHÉP GIAO” là phép lam cho nghi thức hôn phối giữa một người đã chịu phép Rửa Tội và một người chưa được rửa tội thành bí tích.
Để được chuẩn chước phải có lý do chính đáng và hội đủ những điều kiện sau:

* Thứ nhất là phía Công Giáo phải tuyên bố sắn sàng loại bỏ tất cả những gì có nguy hại cho đức tin và họ phải thực sự cam đoan sẽ cố gắng hết sức để con cái sinh ra được rửa tội và giáo dục trong Giáo Hội công giáo (GL1125,1).
* Thứ hai là phía không Công Giáo cũng được thông báo kịp thời về những lời cam đoan ấy, để họ có ý thức về nghĩa vụ của người bạn đường công giáo của mình (GL 1125,2).
* Điều kiện thứ ba là cả hai bên, Công Giáo cũng như không Công Giáo, cần phải được giáo huấn về mục đích và đặc tính thiết yếu của hôn nhân, đặc biệt là đặc tính một vợ một chồng và bất khả phân ly của hôn nhân (GL 1125,3).


theo : www.trungtammucvudcct.com

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2009

Bên em đang có ta ...abc

Mời bạn vào đây cho vui :

Nước Áo ... tổng quát ... nqv





Lịch sử



Đọc bài chính về lịch sử nước Áo

[sửa] Vương quốc Frank Đông (Ostfrankenreich)

Nhiều phần của nưóc Áo ngày nay thuộc về Vương quốc Frank của Karl Đại đế (Karl der Grosse). Sau Hiệp ước Verdun (843), Vương quốc Frank Đông được thành lập, trong đó từ năm 856 có Marchia Orientalis, một vùng trong Niederösterreich ngày nay, được đặt dưới quyền của dòng họ Karoling. Từ năm 955, sau khi hoàng đế Otto I của Đế quốc La Mã Thần thánh chiến thắng người Hung, vương quốc được mở rộng về phía đông nam. Nhiều lãnh địa mới của các công tước và hầu tước được thành lập bên cạnh Karantanien và Marchia Orientalis.

[sửa] Đế quốc La Mã Thần thánh (962–1806)

Năm 976 Marchia Orientalis được đặt dưới quyền của hầu tước Liutpold thuộc dòng họ Babenberger. Vào năm 996 tên Ostarrichi được nhắc đến lần đầu tiên trong một văn kiện, cách viết thành Österreich phát triển từ tên này mà ra. Năm 1156 Ostarrichi trở thành một công quốc.

Nối tiếp theo dòng họ Bebenberger là dòng họ Habsburg, do vua La Mã Rudolf I sáng lập năm 1273. Triều đại mới này đã mở rộng lãnh thổ của mình từ năm 1278 cho đến năm 1526. Các nổ lực vươn lên về quyền lực của họ đã đem lại một đại công quốc (Erzherzogtum) là yếu tố quan trọng trong liên minh của Đế quốc La Mã Thần thánh. Bắt đầu từ 1273, hay 1438 hầu như lúc nào triều đại Habsburg nào cũng đạt được danh hiệu vua Đức hoặc danh hiệu gắn liền vào đấy là danh hiệu hoàng đế La Mã cho đến năm 1804 khi hoàng đế Franz II (đế quốc La Mã Thần thánh) tự nhận thêm danh hiệu Hoàng đế Áo quốc (không thỏa thuận với luật của đế quốc) và Đế quốc La Mã Thần thánh tan rã vào năm 1806.

[sửa] Đế quốc Áo (1804–1867); Áo–Hung (1867–1918)

Nước của Hoàng đế Áo là một quốc gia đa dân tộc. Lãnh địa của dòng họ Habsburg-Lothringer chạy dài từ Böhmen và Mähren qua nước Áo ngày nay xuyên qua Hungary sâu xuống đến tận bán đảo Balkan. Từ 1815 đến 1866 hoàng gia ở Wien cũng đứng đầu trong Liên minh Đức, tan rã sau Chiến tranh Áo–Phổ.

Năm 1867 một nền quân chủ song đôi Áo–Hung được cấu thành nhưng chỉ lưu ý đến các quyền lợi của Áo và Hung; các yêu cầu chính trị của các nhóm dân tộc khác đòi độc lập nhiều hơn đã không được chú ý đến. Sau khi các vấn đế dân tộc bùng phát công khai qua Vụ ám sát thái tử Áo-Hung ở Sarajevo, Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ năm 1914 dẫn đến chấm dứt nền quân chủ song đôi vào năm 1918.

[sửa] Đệ nhất cộng hòa (1918–1938) và Đế chế thứ ba (1938–1945)

Áo-Hung bị tan rã và trên lãnh thổ đó hình thành các quốc gia mới và nước Đức-Áo (Deutschösterreich). Trong Hiệp định Saint-German tên quốc gia này và nguyện vọng liên kết cùng với Cộng hòa Đức mới (Cộng hòa Weimar) bị cấm. Ngày 21 tháng 10 năm 1919 tên được đổi thành "Cộng hòa Áo" (Republik Österreich); năm 1920 hiến pháp mới được thông qua; năm 1931 nguyện vọng thành lập liên minh thuế quan với Đế chế Đức bị cấm.

Khoảng thời gian sau đó (1933) đã đem lại cho người dân một chế độ độc tài và năm 1938 việc gia nhập vào Đế chế Đức xã hội quốc gia của Adolf Hitler. Người độc tài trong Đế chế thứ ba đã thay thế tên quê hương của ông bởi "Ostmark" và ngay sau đó bởi "Donau-und Alpengaue". Chiến tranh thế giới lần thứ hai do Hitler gây ra cuối cùng đã chấm dứt chế độ phát xít chuyên chế và Đế chế thứ ba.

[sửa] Đệ nhị cộng hòa (từ 1945)

Sau 1945 Đế chế thứ ba bị quân đội Đồng Minh chiếm đóng và giải tán. Áo được tái thành lập và được chia làm bốn vùng chiếm đóng. Sau khi Cộng hòa trong Hiệp định quốc gia ngày 15 tháng 5 năm 1955 cam kết không gia nhập một "liên minh" nào nữa, quân đội Đồng Minh đã rời khỏi nước Áo. Ngày 26 tháng 10 năm 1955 Áo tuyên bố "trung lập vĩnh viễn". "Ngày quốc kỳ" (Tag der Fahne) này được kỷ niệm


trong trường học cho đến 1965; từ 1967 ngày này trở thành ngày quốc khánh.

Năm 1969 Áo là nước cùng thành lập EFTA hướng tới một liên minh kinh tế. Nhờ vào tính trung lập nước Áo đã có thể kết nối các quan hệ kinh tế và văn hóa với các nước phía Tây và với các nước thuộc khối Đông Âu thời đấy, việc này đã giúp đỡ nước Áo lâu dài trong thời gian xây dựng lại. Sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt năm 1991 chính sách trung lập dứt khoát được nới lỏng nhưng việc diễn giải một cách thỏa đáng tính trung lập trong trật tự thế giới mới đã thay đổi từ đấy là một đề tài chính trị đối nội đang được tranh cãi. Năm 1995 Áo gia nhập Liên minh châu Âu (EU); năm 1999 Áo bỏ đồng Schilling và cùng với các nước khác trong Liên minh đưa đồng Euro vào sử dụng.

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2009

Đạo trời ... nqv

TÔI THEO ĐẠO TRỜI...



1. Đạo Trời là gì ?

Đạo Trời là lòng tin tưởng một vị linh thiêng, tự hữu, toàn năng, toàn thiện, chí công, chí minh, ngự trên Trời; Đấng ấy gọi nôm là Ông Trời, là Tạo Hóa, là Thượng Đế, là Đấng Tối Cao, tùy tiếng nói của mỗi dân tộc.

2. Tại sao nhận biết có Trời ?

Nhìn vào vũ trụ bao la, tinh vi huyền diệu, tôi nhận rằng phải có bàn tay tác tạo...

Ta xem một chiếc đồng hồ,
Nếu không có thợ, bao giờ thành thân,
Phương chi máy tạo xoay vần,
Tứ thời bát tiết muôn phần lạ hơn,
Nên ta phải lấy trí khôn,
Luận rằng có Đấng Chí Tôn sinh thành.
Con chim nó hót trên cành,
Nếu trời không có, có mình làm sao ?
Con chim nó hót trên cao,
Nếu Trời không có thì sao có mình ?
Trời là gốc của vạn vật “Thiên giả vạn vật chi tổ” ( Trọng Thư )

3. Những ai tin tưởng có Trời ?

Có thể nói rằng hầu hết nhân loại tin tưởng có Trời. Tính tự nhiên của con người, khi gặp nguy biến, đều kêu Trời ! Ca dao bình dân có bài:

Lạy Trời mưa xuống,
Lấy nuớc tôi uống,
Lấy ruộng tôi cày,
Lấy đầy bát cơm...

4. Đạo Trời có phải riêng cho một nước nào không ?

Đạo Trời chung cho mọi nước, mọi thời. “Thiên giả vạn vật chi tổ” ( Trọng Thư ); Đạo sáng suốt là bởi Trời ban xuống “Minh Đạo chi bản nguyên, xuất ư Thiên” ( Khổng Tử ).

5. Làm thế nào biết được Đạo Trời ở nơi mỗi người ?

Trời ban cho mỗi người có lương tri, lương tâm như ngọn đèn soi cho ta biết đâu là thật, đâu là dối, đâu là lành, đâu là dữ, đâu là phúc, đâu là tội, để ta lái mọi tư tưởng, hành động của ta sao cho hợp với đường lối của Trời. “Tri Thiên đạo, hành thân dĩ nhân nghĩa” ( Biết Đạo Trời thì ăn ở theo nhân nghĩa – Khổng Tử )

6. Mỗi người phải giữ Đạo Trời thế nào ?

Phải cố gắng tìm cho thấy rõ Đạo Trời. Phải lấy Đạo mà hướng dẫn đời sống – theo lương tâm mà lấy điều thiện làm vui, lấy đạo lý làm trọng – phải nhớ luật của Trời làm lành sẽ được thưởng, làm dữ sẽ bị phạ “Thiên vọng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”. ( Lưới trời rộng, thưa mà không lọt đâu ).

7. Bình thường, người ta thờ Trời như thế nào ?

Mỗi gia đình thường có bàn thờ trong nhà để thờ Trời và Ông Bà Tổ Tiên; có người xây trụ ở ngoài sân trước nhà, sớm tối vái lạy; thỉnh thoảng dâng hương nến, hoa quả để tỏ lòng tri ân.

8. Đạo Trời dạy ta phải cư xử với nhau như thế nào ?

Trời là gốc, là cha mẹ sinh thành, thì phải coi mọi người là anh chị em với nhau và cư xử như một đại gia đình nhân loại, lấy tình thương mà bao bọc.

9. Đạo Trời có từ bao giờ ?

Đạo Trời có từ khi Trời tác tạo ra con người có trí khôn biết suy luận, biết hướng về Trời, biết xem ý Trời thế nào mà hành động.

10. Ý Trời thế nào ?

Ý Trời là lương tri, lương tâm, Trời đã đặt trong lòng mỗi người, khác nào hạt giống đặt vào đất, sẽ dần dần nẩy mầm vươn lên thành cây, sinh hoa kết quả, thế là đạt tới mức độ mà ý Trời mong muốn.

11. Đạo Trời đưa người ta đến đâu ?

Đạo Trời đưa người ta về tới Trời. Trời là nguồn hạnh phúc vô cùng vô biên mà lòng người khao khát.

12. Sống đạo Trời có dễ không ?

Dễ hay khó là tại mỗi người. E dè thì khó. Cương quyết thì dễ. Sống theo luơng tâm, làm lành lánh dữ. “Vi thiện tối lạc” ( làm lành thì rất vui ). “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông” ( Nguyễn Bá Học ).

13. Trên đường thực hiện đạo Trời, người ta gặp những kẻ thù nào ?

Có ba loại: Một là ngay ở trong mình. Đó là tính mê nết xấu, dục vọng đê hèn... Hai là thế tục cám dỗ lôi cuốn đi vào sa đọa trụy lạc. Ba là Xa-tan ác quỷ, luôn tìm hại con người.

14. Con người đối phó thế nào với 3 loại kẻ thù nói trên ?

Phải tự tu tỉnh và kêu cứu kịp thời:
a. Tự tu là sửa trị tính nết xấu, loại trừ những sâu mọt đục khoét trong mình
b. Tự tỉnh là tỉnh táo đề phòng, tránh xa những cạm bẫy do thế tục giương lên để bắt mình
c. Kêu cứu kịp thời và xin Trời hộ giúp để Xa-tan ác quỷ không hại được mình.
Kẻ lành thánh, người khôn ngoan nhờ 3 việc đó là lúc nào cũng vững như kiềng 3 chân. “Trời giúp kẻ tự giúp”.
Chim khôn xa tránh lưới dò,
Người khôn tránh chốn ô đồ mới khôn.

15. Xa-tan ác quỷ ở đâu ra và mưu hại con người đến thế nào ?

Nó là một loài do Trời sinh ra, rồi vì tự kiêu tự đại mà phản bội với Trời, nên nó muốn phá việc của Trời, và không muốn cho con người trở về với Trời, vì như thế thì Trời được vinh hiển và con người được hạnh phúc thật. Xa-tan không làm gì được Trời, nhưng chỉ làm hại được con người bằng cách lôi cuốn dụ dỗ con người xa Trời, phản bội với Trời như nó. Người nào mắc mưu Xa-tan là đi đến chỗ tự sát và đồng khổ cực với nó sau này mãi mãi.

16. Có ai thắng được Xa-tan ác quỷ chưa ?

Các bậc thánh nhân lấy Đạo Trời làm lẽ sống, luôn cậy dựa quyền năng của Trời, bền chí quyết giữ Đạo dù chết cũng không bỏ. Những vị đó đã thắng được Xa-tan.

17. Đạo Trời từ xưa tới nay được công bố như thế nào ?

Lịch sử Đạo Trời là lịch sử nhân loại, vì Đạo Trời là đường lối để Trời đi xuống với nhân loại bằng cách tác tạo nên ta, và cũng là đường lối để nhân loại ta đi lên với Trời, đó là trở về nguồn chơn phúc vô biên mà ta khát vọng.

Đạo Trời được công bố bằng ba hình thức:

Hình thức thứ nhất là in sẵn vào tâm hồn mỗi người khi sinh ra. Đến tuổi khôn người ta nhìn thấy trong lòng mình ý nghĩa thế nào là lành, thế nào là dữ, đâu là phúc, đâu là tội, và khi làm trái lương tâm thì người ta thấy bứt rứt sầu khổ.

Hình thức thứ hai là đi vào lịch sử thực sự. Trời chọn một dân tộc, giao cho sứ mạng duy trì, phổ biến ý niệm về Đạo Trời, kêu gọi các dân tộc khác giác ngộ từ bỏ những tà thần mà Xa-tan đã bày đặt ra để lừa dối con người. Hình thức thứ hai này đã được thực hiện trong lịch sử dân Do Thái. Đạo luật của Trời xưa chỉ in trong lòng người thì đã được in vào bia đá trên núi Xi-nai và trao cho thủ lĩnh Mô-sê đem công bố cho dân một cách long trọng vào khoảng 1.250 năm trước Công Lịch.

Hình thức thứ ba tiếp tục lịch sử thực sự. Đó là việc Trời cử một Ngôi vị giáng trần, nhập thể làm một Con Người để sống với con người chúng ta, trực tiếp nói với nhân loại đường lối của Đạo Trời, và cho chúng ta biết Trời yêu thương ta như Cha yêu thương con, cùng dạy ta cách thức cầu nguyện thông hiệp với Trời. Ngôi vị Trời giáng trần đây chính là Đức Giê-su Ki-tô mà thân thế và sự nghiệp đã được lịch sử ghi nhận rõ ràng – và sự giáng trần của Ngài đã dựng nên một cái mốc phân chia lịch sử làm hai giai đoạn:
- Trước Ngài ( BC ): Tính từ Ngài lui về trước.
- Sau Ngài ( PC ): Tính từ Ngài cho tới nay.
Và cũng từ ngày Đức Giê-su Ki-tô di vào lịch sử nhân loại, Đạo Trời được sáng tỏ và mang thêm một tên mới là Ki-tô Giáo.

18. Việc Đức Giê-su Ki-tô đến có lợi gì cho nhân loại ?

Lợi rất nhiều, rất lớn, rất cần thiết:

a. Chính nhờ sự hy sinh của Ngài, nhân loại được Chúa Trời ( Thiên Chúa ) nhận vào hàng con cái và cho hưởng gia nghiệp Thiên Quốc nếu trung thành.

b. Nhờ lời giáo huấn và gương sống của Ngài, ta biết được gốc ngọn của mình, biết được lẽ sống chân chính, biết được đường lối trở về với Chúa Trời.

c. Nhờ sự trung gian của Ngài, nhân loại lại được giao hòa với Chúa Trời.

d. Nhờ quyền năng, biểu hiện trong cuộc sống lại ( Phục Sinh ) của Ngài, cũng là nhờ Chúa Thánh Thần, nhân loại được ơn thiêng hỗ trợ để thắng các mưu chước của bè lu Xa-tan, để tiến tới Quê thật là Nước Trời.

Ai theo Đức Giê-su Ki-tô thì được sống hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi, nghĩa là đồng nhất với Đức Giê-su Ki-tô, trong Chúa Thánh Thần, trở nên con chí ái của Cha trên Trời.

19. Sự nghiệp của Đức Giê-su Ki-tô còn tiếp tục trong nhân loại bằng cách nào ?

Vì Đức Giê-su Ki-tô là một Ngôi Trời giáng thế, nên sau khi hoàn thành sứ mệnh, Ngài về Trời. Nhưng sự nghiệp của Ngài cần phổ cập đến mọi người và trong mọi thế hệ, nên Ngài đã lập một hội đoàn để duy trì, phổ biến những chân lý về Đạo Trời cho kẻ hậu lai khỏi bị Xa-tan lừa dối mà thiệt phần vĩnh phúc chăng.

Hội đoàn mà Đức Giê-su Ki-tô để lại, đó là Hội Thánh, do các Tông Đồ kế tiếp nhau coi sóc. Vị Tông Đồ Trưởng gọi là Giáo Hoàng, là thủ lãnh thay mặt Chúa Giê-su lãnh đạo Hội Thánh. Thánh Phê-rô là vị Giáo Hoàng đầu tiên do chính Chúa Giê-su chỉ định; và vị Giáo Hoàng hiện tại, vừa mới về Trời, là Đức Gio-an Phao-lô đệ nhị, vị Giáo Hoàng thứ 265, coi sóc hướng dẫn Hội Thánh từ năm 1978 đến năm nay, 2005.

20. Muốn học hỏi gia nhập Đạo Trời ( Đạo Thiên Chúa ), ta có thể căn cứ vào đâu và ta đến với ai ?

Căn cứ vào sử sách, vào uy tín và công cuộc của Hội Thánh đã thực hiện từ gần hai ngàn năm nay ở khắp mọi nơi trên thế giới. Bộ sách Thánh Kinh gồm phần Cựu Ước ( Đạo Trời do Ông Mô-sê và các Ngôn Sứ ghi chép trước Chúa Giáng Sinh ) và phần Tân Ước ( Đạo Trời do chính Chúa Giê-su và các môn đệ đầu tiên ghi chép ): Là bộ sách được phổ biến rộng rãi nhất từ xưa tới nay. Nước nào cũng có Thánh Kinh, có sách Giáo Lý in bằng tiếng nước ấy, nên việc học hỏi Đạo đuợc dễ dàng. Còn việc gia nhập Đạo cũng được các vị đại diện của Hội Thánh chỉ bảo cặn kẽ và tiếp đón nồng hậu.

Dù nhiều khi bị hiểu lầm, bị ghen ghét, bị bách hại, Hội Thánh vẫn phát triễn bất chấp mọi trở lực, khiến con số giáo hữu ngày nay đã tới hàng tỷ người.

Xưa kia chỉ biết kêu Trời,
Ngày nay lại biết Chúa Trời là Cha.
Trần gian chưa phải là Nhà,
Thiên Đàng vĩnh phúc mới là chính Quê.
Chữ rằng “Sinh ký tử quy”,
Nghĩa là: “Sống gởi thác về đời sau”.

21. Tại sao có người đang giữ đạo tự nhiên, ăn ngay ở lành, danh thơm tiếng tốt rồi, mà khi gặp Đạo Trời, lại tin theo ?

Vì Đạo tự nhiên thực ra cũng là Đạo Trời, nhưng ở giai đoạn sơ khai. Vả lại giữ Đạo có phải cốt cho được danh thơm tiếng tốt ở đời này đâu, nhưng là cốt làm đầy đủ đức hiếu thảo đối với Trời là Đấng sinh thành dưỡng dục và thưởng phạt người ta sau này. Vì thế khi gặp được Đạo Trời ở giai đoạn hoàn toàn trọn vẹn thì không thể không theo cho được.

Đức Giê-su đã ví Đạo Trời như viên ngọc quý giá đặc biệt mà một đời người chỉ gặp thấy có một lần, nên ai khôn ngoan thật đều dẹp bỏ hết các thứ khác kém cỏi để sắm cho bằng được thứ ngọc hảo hạng ấy. Những thứ ngọc khác đây có thể coi là luân lý tự nhiên mà các bậc hiền nhân quân tử như Đức Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Mặc Tử, Lão Tử ở Trung Hoa; như Socrate, Platon, Aristote ở Hy Lạp, như Đức Thích Ca ở Ấn Độ... đã theo luơng tâm thực hiện và phổ biến được phần nào trong lúc sinh thời, đó là những sứ giả tiền phong của Đạo Trời.

Bởi thế khi chính Đạo Trời được công khai xuất hiện trong lịch sử với sự giáng trần của Đức Giê-su Ki-tô, Con Trời hằng sống, thì vai trò của các sứ giả đương nhiên chấm dứt, và lòng người tất nhiên hướng về Đạo Trời là chỗ có Chân Lý hoàn toàn và Thiện Mỹ viên mãn vậy.

22. Đạo Trời đối với Đạo Ông Bà Tổ Tiên thế nào ?

Không có Trời thì làm gì có ông bà tổ tiên, vì chính tổ tiên cũng nhờ Trời sinh Trời dưỡng, cũng do Trời đặt vào cái vũ trụ này, cho qua một cầu sinh tử dài lắm là ba vạn sáu ngàn ngày, rồi cũng từ giã cõi trần mà về tới Trời rồi, “sinh ký tử quy” là thế.

Đằng khác, chính đức hiếu nghĩa với tổ tiên cũng là do Trời in vào lòng ta, nên hiếu nghĩa là theo hướng Trời sắp đặt, nhưng không nên dừng lại ở tổ tiên mà phải đi xa hơn nữa, đến tận Trời mới là hiếu nghĩa vẹn toàn, mới là chính đáng, vì Trời mới là gốc tổ mọi loài, còn ông bà tổ tiên chỉ là những móc nối trung gian mà thôi.

23. Có người nghĩ rằng theo Đạo Trời thì không cúng thực phẫm đồ dùng cho ông bà để ông bà đói khổ, vì thế mà có người tuy mến Đạo Trời, vẫn chưa dám trở lại. Nghĩ thế có đúng chăng ?

Lòng thương nhớ ông bà đã quá cố là việc tốt, nhưng nghĩ rằng vong linh ông bà còn cần cơm gạo bánh trái hay đồ dùng như khi còn sống thì không đúng, vì linh hồn thiêng liêng không cần vật chất như xác, nhưng cúng quảy thực phẩm như một nghi lễ để kính nhớ thì tốt. Việc hiếu nghĩa ta có thể làm là thành khẩn cầu xin với Trời mở lượng hải hà: nhất xá vạn xá, cho ông bà vào hưởng phúc với Trời sớm ngày nào hay ngày ấy, đó là thiết thực và cần cấp hơn hết.

Bên Công Giáo có việc cầu nguyện cho ông bà hằng ngày; mỗi năm lại dành hẳn một tháng để toàn thể thế giới hợp ý thỉnh nguyện cho nữa. Ngoài ra, các ngày kỷ niệm, tuần ba tuần bảy, tuần ba mươi, tuần trăm, giáp năm, hay giỗ đầu, giỗ năm của gia đình nào thì gia đình nấy hoặc cả Họ Đạo cùng đọc kinh cầu nguyện cho nữa. Cũng có thể tổ chức bữa ăn giỗ để phát huy tình cảm gia đình và gia tộc. Xét thế, theo Đạo Trời, con cháu rất là hiếu nghĩa với ông bà tổ tiên.

24. Có người biết Đạo Trời là cần cho mình, nhưng vì sinh kế bận rộn, vì còn muốn sống dễ dãi, ngại chịu khó, nên chưa dám trở lại Đạo. Nghĩ thế có được chăng ?

Đạo lý tối đại, sao lại coi rẻ thế được. Sinh kế chỉ là phương tiện nhất thời, chớ có phải là cứu cánh của con người đâu. Ta nên biết, con người lúc nào cũng nhờ ơn Trời, sao ta lại quên vị Đại Ân Nhân của ta là Trời. Nếu ta muốn sống bừa bãi ngoài kỷ luật của lương tâm, tức là ta tự giảm giá và tự đặt mình vào tình trạng nguy cấp luôn luôn, vì ta không biết mình chết lúc nào – và chết rồi phải bị phán xét ngay lúc ấy, hối cũng không kịp.

Biết Trời thưởng phạt sau này,
Muốn sau được thưởng thì rày phải lo.
Gắng công Trời sẽ giúp cho,
Đạo lành gây dựng cơ đồ mai sau.
Mọi sự ở trên đời,
Một mai rồi cũng hết,
Việc lành dữ mà thôi,
Sẽ theo ta khi chết...

PHỤ LỤC:

Ý kiến của những người trở lại Đạo Thiên Chúa:

1. Ông Lục Trưng Tường, nhà ngoại giao Trung Hoa, từ nhỏ là môn sinh của sân Trình cửa Khổng và chỉ có biết đạo Ông Bà Tổ Tiên, sau đã gặp được Đạo Công Giáo như gặp được kho báu, đã trở lại và tiến xa trên đường Đạo, đã hiến thân làm Linh Mục. Ông nói: “Ơn Cứu Độ là chỗ tập trung tất cả các nẻo đường, là chỗ độc nhất mà đức hiếu của loài người được tiếp vào đức hiếu thảo siêu nhiên mà Đức Ki-tô đã dạy và đã cho chúng ta hưởng thụ để kết hợp tất cả nhân loại với Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên Trời”. ( x. The Ways of Confucius and of Christ )

2. Ông Ngô Gia Lễ, tri phủ Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, miền Bắc Việt Nam ta, vì tiếp xúc với người Công Giáo, ông muốn tìm hiểu đạo lý, đã học sách Phúc Âm, đã nhận được tính cách siêu việt của Đức Ki-tô, Con Trời giáng thế, ông đã trở lại để được tâm giao với Trời qua Đức Ki-tô. Ông nói: “Tôi đã đọc Phúc Âm một cách thành kính. Tôi nhận thấy Đức Ki-tô không phải chỉ là một nhân vật khác thường, Ngài chính là con Thượng Đế đã đến để cứu đời. Tôi là một trong những kẻ được Ngài tỏ mình ra trong Phúc Âm”. ( x. Ông Tổ Đạo Công Giáo )

3. Ông Trịnh Sùng Ngộ, giáo sư triết học Đại Học Honolulu, nước Huê Kỳ, nguyên đại sứ Trung Hoa Dân Quốc tại Vatican. Từ nhỏ đã sinh ra trong gia đình thấm nhuần tư tưởng Lão Giáo, Khổng Giáo và Phật Giáo. Sau khi ông trở lại ông đã giúp nhiều bạn hữu biết Đạo và đã đem hết tâm trí vào việc phiên dịch Thánh Kinh và Kinh Thi ra tiếng Trung Hoa. Ông nói: “Thiên Chúa Giáo là Đạo bởi Trời. Người ta lầm nếu cho đó là đạo của Âu Châu. Đạo dó không phải của Âu Châu hay của Á Châu, không cũ không mới. Tôi cảm thấy Đạo đó tiềm ẩn ở trong tôi một cách sâu đậm hơn cả Lão Giáo, Khổng Giáo, Phật Giáo là những đạo tôi đã hấp thụ khi sinh trưởng. Tôi biết ơn những đạo này vì đã làm đà đưa tôi đến với Đức Ki-tô. Sau nhiều năm lạc lõng, nay tôi được về với Đức Ki-tô để ở luôn với Ngài thật là vui sướng vô biên. Tôi đã nhảy vọt lên trên thời gian rồi. Từ nay sự sống động và bản thể của tôi đuợc đặt vào lãnh vực đời đời. Gia nhập Hội Thánh Chúa Ki-tô, tôi đã không thiệt mất gì, nhưng đã được hoàn toàn mãn nguyện” ( x. Par delà l’Est et l’Ouest ).

4. Ông Mashaba, một học giả Ấn Độ, sau 20 năm tìm tòi suy luận về Ấn Giáo, Khổng Giáo, Phật Giáo, Ba-la-môn Giáo, Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo, Lão Giáo, Hồi Giáo, Thần Đạo ( của người Nhựt Bổn ), Tin Lành Giáo, ông đã phân tích như sau: “Sở dĩ mỗi tôn giáo có một công dụng khác nhau là vì mỗi Giáo Tổ nhìn thấy một khía cạnh đau khổ của con người và tìm cách cứu giúp theo khía cạnh đó. Bởi thế, có thứ kêu gọi từ bi quảng đại, có thứ chủ trương diệt dục hy sinh, có thứ dùng hiếu thảo nhân nghĩa, có thứ giúp tu thân cứu đời, công bình bác ái v.v... nhưng không tôn giáo nào được đầy đủ như Thiên Chúa Giáo, vì Đạo này xây dựng cho con người một cuộc đời biết xả thân vì tình yêu thương”.

Tưởng nhớ ông bà tổ tiên

Chương trình đơn giản khi cầu nguyện với tổ tiên bất cứ dịp nào:

1. Thắp hương đèn trên bàn thờ

2. Làm dấu hình Thánh Giá

3. Nguyện Kinh Lạy Cha

4. Nguyện: “Chúng con cậy vì Danh Chúa nhân từ cho các đẳng linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. Amen”.

5. Dâng lời nguyện với tổ tiên: “Kính lạy anh linh các bậc tổ tiên ông bà nội ngoại..., hôm nay nhân ngày..., chúng con thắp nén hương bày tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn. Kính xin thương cầu nguyện cho chúng con được bình an mạnh khoẻ, được hòa thuận êm ấm và được mọi điều tốt đẹp như ý Thiên Chúa muốn...”

Nghi thức Lễ Cưới ở gia đình:

Ngày nay việc tổ chức đám cưới tại gia đình có thể diễn tiến theo nhiều dạng rất khác nhau. Tuy nhiên, trường hợp thông thường nhất vẫn là: sau Lễ Hôn Phối, nhà gái tổ chức mừng vu quy, và sau khi đón dâu về nhà, nhà trai tổ chức chúc mừng Lễ Thành Hôn. Nghi Lễ Vu Quy dưới đây cử hành khi nhà trai đến nhà gái đón dâu; nghi Lễ Thành Hôn cử hành khi cô dâu được đưa về nhà chồng. Nếu diễn tiến theo các cách khác, xin tùy nghi ứng biến.

A. Nghi thức Lễ Vu Quy:

Vị chủ hôn bên nhà trai, chú rể và họ hàng từ nhà trai tới nhà gái, dừng lại ngoài cổng. Đại diện vào báo cho nhà gái ra đón mời vào. Rồi nghi thức như sau:
1. Nhà trai ngỏ lời, giới thiệu lễ vật.
2. Nhà gái đáp lời chấp thuận và xin đưa lễ vật đến bàn thờ gia tiên để làm lễ.
3. Lễ Gia Tiên và cầu nguyện tạ ơn. ( xem Lễ Gia Tiên tiếp sau )
4. Chú rể và cô dâu vào chào cha mẹ và họ hàng bên vợ.
5. Uống nước hoặc ăn tiệc.
6. Cuối giờ, chủ hôn nhà trai xin đón dâu, nhà gái đáp lời ưng thuận...

B. Nghi thức Lễ Thành Hôn:

Đoàn đưa dâu về nhà trai, nhà trai mời vào. Người mẹ chồng đón con dâu vào phòng nghỉ một lát rồi ra Lễ Gia Tiên. Nghi thức Lễ Gia Tiên như sau:
1. Nhà trai ngỏ lời chào mừng và mời tới trước bàn thờ gia tiên làm lễ.
2. Lễ Gia Tiên và cầu nguyện tạ ơn.( xem Lễ Gia Tiên tiếp sau )
3. Cô dâu chú rể chào cha mẹ chồng và họ hàng bên chồng.
4. Uống nước hoặc ăn tiệc.
5. Cuối cùng, vị chủ hôn nhà gái gởi gắm, nhà trai giã từ.

Lễ Gia Tiên và cầu nguyện tạ ơn:

1. Vị chủ hôn nói đại ý: “Kính lạy anh linh các bậc tổ tiên, nhờ phúc đức ông bà, tổ tiên, gia đình chúng con (hoặc nêu tên gia đình anh chị X... ) sinh hạ được người con gái ( hoặc con trai ) là... và đã giáo dục cháu nên nguời. Nay cháu được Chúa thương cho đẹp duyên cùng cháu... Chúng con xin đưa hai cháu đến trước bàn thờ gia tiên. Xin phép cho hai cháu được dâng nén hương bày tỏ lòng kính nhớ tri ân và thắp lên ngọn nến bày tỏ quyết tâm làm rạng danh tổ tiên và vinh Danh Thiên Chúa. Xin các bậc tiền nhân bầu cử cho hai cháu được trăm năm hạnh phúc, sống đẹp lòng cha mẹ họ hàng hai bên, chu toàn các trách nhiệm hôn nhân và gia đình theo đúng ý của Chúa Trời”.

2. Cô dâu chú rể niệm hương: ( Một người đốt nhang sẵn và đưa cho cô dâu chú rể, cả hai cùng vái 4 vái ).

3. Cô dâu chú rể thắp nến.

4. Vị chủ hôn tiếp lời: “Giờ đây chúng ta hướng đến Thiên Chúa là nguồn gốc trên cùng của mọi gia tộc. Xin Ngài lấy tình Cha mà che chở gia đình mới... “Lạy Cha chúng con...”

5. Đọc Lời Chúa: ( Ga 2, 1 – 11 )

6. Cô dâu và chú rể cùng cầu nguyện: “Lạy Chúa Giê-su, xưa Chúa đã đến trong tiệc cưới Ca-na, ban ơn lành cho đôi bạn mới và gia đình hai bên. Nay qua Bí Tích Hôn Phối, Chúa cũng đã đến trong gia đình chúng con, chúng con xin dâng lời tạ ơn Chúa. Xin Chúa chúc lành cho cha mẹ chúng con, mỗi người trong gia đình và họ hàng hai bên, và toàn thể ân nhân bạn hữu. Xưa Chúa đã biến đổi nước thành rượu, ngày nay xin Chúa biến đổi tình yêu thương bé nhỏ giới hạn của chúng con thành tình yêu thương bao la và nồng thắm của Chúa. Xin cho gia đình chúng con biết tôn vinh Chúa, đem lại hạnh phúc cho nhau và niềm an ủi cho mọi người. Chúa hằng sống hằng trị muôn đời. Amen”.

7. Kết thúc: Hát Kinh Hòa Bình hoặc một bài khác thích hợp...

Lm. NGUYỄN QUANG DUY, DCCT,
Gx. Long Hưng, Gp. Vĩnh Long, năm 2000, theo “Sứ Vụ Loan báo Tin Mừng

Chúa chiên lành ...



Bài giảng thật hay của Linh Mục Lê Quang Uy DCCT Vietnam chủ nhật 5.7.09 .Mời bấm vào đây để nghe ...
Chúc các bạn an lành

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2009

Phở trị Cúm heo ... hay lắm ...nqv


Nqv Chân thành cám ơn bạn Hoàng Trần đã gửu bài Phở trị cúm và xin phép bạn HT cho phép nqv nhuận sắc bài này để thêm vui vẻ … mong bạn thông cảm .Chúc bạn và gia đình an lành ...

Nguồn gốc Phở đủ loại theo Wiki .
Một số giả thuyết cho rằng phở có lẽ xuất hiện đầu tiên ở Nam Định [1], nhưng Hà Nội lại là nơi làm cho món ăn dân dã này trở nên nổi tiếng như ngày nay; một số giả thuyết khác nhìn nhận phở như một đặc trưng ẩm thực Hà Thành, có lịch sử từ cuộc giao duyên Việt-Pháp đầu thế kỷ 20.
Phở bắt nguồn từ miền Bắc Việt Nam, xâm nhập vào miền Trung và miền Nam giữa thập niên 1950, sau sự thất bại của Pháp ở Đông Dương và Việt Nam bị chia thành hai miền. Người Việt Nam ở phía bắc di cư vào miền Nam năm 1954 mang theo món phở và phở đã bắt đầu có những sự khác biệt. Từ lúc này, những ý kiến trái ngược nhau về nguồn gốc của phở đã xuất hiện. Một vài trong số đó đưa ra luận điểm rằng phở bắt nguồn từ phương pháp chế biến món thịt hầm của Pháp (pot-au-feu, đọc như "pô tô phơ"). Sự có mặt của Pháp ở Việt Nam có lẽ củng cố luận điểm này, nhưng việc phở có nhiều gia vị và rau mùi nguồn gốc từ châu Á, đặc biệt là Việt Nam, đã bác bỏ chúng. Số khác lại cho rằng phở ảnh hưởng từ Trung Hoa vì dựa vào mặt địa lý, hơn nữa phương pháp sử dụng bột gạo làm bánh phở và nhiều gia vị trong phở khá giống món hoành thánh của Trung Hoa, nhưng không chứng minh được. Vì thế, nguồn gốc của phở từ Việt Nam có lẽ là ý kiến được nhiều người chấp nhận.
Sự xuất ngoại để tị nạn chính trị của những người Việt Nam trong thời kỳ hậu Chiến tranh Việt Nam đã làm cho phở được biết đến ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là các nước phương Tây. Đã có nhiều nhà hàng phở ở Mỹ, Pháp, Úc và Canada. Những người Việt Nam không thuộc diện tị nạn chính trị cũng mang phở đến những nước thuộc khối Xô Viết, bao gồm Nga, Ba Lan và Cộng hòa Séc. Phở là món ăn nước ngoài được ưa thích nhất của người Mỹ hơn cả Pizza, Sushi,... [2].
Ngày nay, phở đã có những phương pháp chế biến và hương vị khác nhau. Tại Việt Nam, có những tên gọi để phân biệt chúng là: Phở bắc (ở miền Bắc), phở Huế (ở miền Trung) và phở Sài Gòn (ở miền Nam). Thông thường thì phở miền Bắc đặc trưng bởi vị mặn còn miền Nam thì ngọt. Bánh phở ở miền Nam thì lại nhỏ hơn ở miền Bắc.
Trước đây, chỉ có phở bò chín với đầy đủ "chín-bắp-nạm-gầu", ngày nay thực khách chấp nhận cả phở tái, phở gà. Đi xa hơn, có nhà hàng thử nghiệm với cả thịt vịt, ngan nhưng không mấy thành công. Một điều hiển nhiên là món phở là của người Việt. Ngoài ra, trong những năm gần đây, giới trẻ tại Việt Nam còn tạo ra nhiều món ẩm thực từ nguyên liệu bánh phở truyền thống như phở cuốn, loại phở xuất hiện vào thập niên 1970 là phở xào, của thập niên 1980 là phở rán... Những món ăn này càng làm phong phú thêm thực đơn ẩm thực của người Việt.
Phở trị Cúuuuuuuuuuuuuuuuuuuum….


Them 1 ly do nua de thinh thoang chung ta nen bo Com ma... an Pho.
Cúm heo hay còn gọi là cúm “Trư Bát Giới” (Porcine influenza, Swine infuenza) gây bởi virus A/ H1N1 đang lan tràn từ Mễ, Mỹ, đến Canada,..... và nó đang tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên toàn cầu.

Thuốc điều trị hiện đang dùng bây giờ là TAMIFLU, thành phần hóa học là Oseltamivir phosphate, bản quyền của Roche.

Chất điều chế Tamiflu là Shikimic acid .. Shikimic acid được tìm thấy nhiều trong bông Tai Hồi hay còn gọi Tai Vị hoặc hoa Tám sừng (Chinese Star Anise), một loại gia vị dùng để nấu phở..

Các xứ Âu-Mỹ không trồng được Tai Hồi nên họ điều chế Tamiflu phải trải qua nhiều giai đoạn tổng hợp Shikimic acid, mất thời giờ . Người Tàu họ trích thẳng từ bông Tai Hồi cho nên bây giờ họ có đủ trữ lượng Tamiflu để cung ứng cho trên tỷ dân Tàu nếu dịch cúm ãy ra trên nước họ .

Việt Nam có một cách tổng hợp Shikimic acid nhanh nhất, không cần dược sĩ, chỉ cần bàn tay của các bà nội trợ đó là nấu món phở bò .

Như đã trình bày ở trên Tamiflu chứa thành phần hóa học cùa TAI HỒI (star anise), mà Phở là món cần rất nhiều Tai Hồi khi nấu . Chỉ cần một tô phở nóng với nước lèo nấu với gia vị Tai Hồi là có thể thay Tamiflu điều trị Cúm rồi .

Trường hợp bị cúm, không mua được Tamiflu, cũng không tìm ra tiệm phở có nước lèo "đúng tiêu chuẩn" nấu với Tai Hồi thì hãy nhanh chân ra tiệm thuốc bắc hay tiệm bán gia vị nấu phở mua vài bịch Tai Hồi . Nấu Tai Hồi thay nước trà để uống, nhớ là phải uống nóng, kèm theo vài sợi gừng, một phần tư trái tắc, vài giọt mật ong.

Shikimic acid (để chế Tamiflu) là chất khó tan trong nước, dễ tan trong rượu nên nếu ngâm tai hồi trong rượu, ta sẽ có bình rượu phòng Cúm . Cứ tưởng tượng, chiều đi làm về, bên mâm cơm nóng sốt, có gấu mẹ duyên dáng xinh xinh ngồi bên cạnh , rót ra làm một hớp, có lý lắm chứ , ngừa bịnh tốt hơn chữa bệnh mà .

st.

Tóm lại ăn phở (với nước lèo nấu với hoa Tai Hồi) là phương thuốc trị cúm độc quyền của người Việt.




Thứ Năm, 11 tháng 6, 2009



Đại Hội Công Giáo Việt Nam tại Đức quốc kỳ thứ 33 với chủ đề: ''Sống Lời Chúa-Năm Thánh Phaolô''

Với bài diễn văn khai mạc, Ông Vincenz Nguyễn Văn Rị, Phó Chủ Tịch Nội Vụ, Xử lý Thường vụ Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Đức, đồng thời cũng là Trưởng ban tổ chức Đại Hội Công Giáo kỳ thứ 33, đã đưa mọi tham dự viên đến gần Mẹ bằng những lời tâm tình phó thác của người con thảo:

Mời bạn xem thêm hình ảnh ở đây
Mẹ Lavang!

Mẹ đã thân hành đến với chúng con, chúng con là những con cái ly hương. Vì nhiều lý do và hoàn cảnh không thể đến kính viếng Mẹ nơi quê nhà. Chính vì thế Mẹ đã đến để vỗ về và an ủi đoàn con của Mẹ nơi đây. Tình Mẹ cho con không bao giờ kể xiết, xin Mẹ luôn đồng hành với chúng con trên mọi nẻo đường trần thế.

Và hôm nay, xin Mẹ cầu cùng Chúa chúc phúc cho mỗi người chúng con được sống tràn đầy hồng ân của Chúa Thánh Thần trong những ngày Đại hội này, để xứng đáng cùng Mẹ long trọng khai mạc Đại hội Công giáo Việt nam tại Đức kỳ thứ 33.“

Sau những lời thân thương gởi đến Mẹ, lời cầu „Lạy Mẹ là ngôi sao sáng“ thật khẩn thiết đang vang vọng trong tâm tình phó thác của những người con thảo là một đồng tâm cùng nhau tuyên bố khai mạc Đại Hội Công Giáo Việt Nam tại Đức kỳ thứ 33 với chủ đề:

Sống Lời Chúa – Năm Thánh Phaolô

Ngay sau đó, Linh Mục Antôn Huỳnh văn Lộ, Đại diện Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam bên cạnh Hội Đồng Giám Mục Đức đã thay mặt cho Hội Đồng Tuyên Uý và tất cả linh mục tu sĩ Việt Nam tại Đức chào mừng Đại Hội cùng tất cả các cộng đoàn, đặc biệt các bạn trẻ và các em thiếu nhi. Ngài cũng nói đến ý nghĩa chủ đề của ngày ĐHCG như sau:

„Là người tín hữu công giáo, chúng ta đồng hành với Giáo Hội trên con đường Đức Tin. Với đề tài „Sống Lời Chúa – Năm Thánh Phaolô” Đại Hội muốn nhấn mạnh đến „Năm Thánh Phaolô” chúng ta đang sống mà Đức Thánh Cha Bênêđictô đã công bố cho toàn thể Giáo Hội.

Nhắc đến Thánh Phaolô là chúng ta nghĩ đến một con người đã không quản ngại khó khăn thử thách để rao giảng về Chúa Kitô và giáo lý của Ngài cho các dân tộc thuộc Đế Quốc La Mã. Qua các thư của Thánh Phaolô, chúng ta có được giáo lý phong phú cho đời sống đức tin của người Kitô Hữu. Điểm nổi bật đáng ghi nhớ nơi Thánh Phaolô là lời rao giảng và đời sống của Ngài có cùng một nhịp điệu như nhau. Nói sao sống vậy! Đời sống phản ảnh đúng lời nói. Chính vì thế lời rao giảng của Ngài tác động mạnh mẽ nơi tâm hồn các thính giả và nhiều người đã đón nhận Lời Chúa và tin vào Chúa Kitô.

Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người chúng ta cũng là một Phaolô thứ hai khi theo mẫu gương của Ngài biết để cho Lời Chúa tác động nơi chúng ta. Nếu không, Lời Chúa, cho dù có đến với chúng ta ngàn lần vẫn không mang lại hoa trái, giống như một tác giả đã viết vài thế kỷ trước đây: „Nếu Chúa Kitô không sinh lại trong tâm hồn bạn thì cho dù Chúa Kitô có sinh ra ngàn lần cũng không đem lại ích lợi gì cho bạn.“ Trong những ngày Đại Hội nầy, những khi nghe Lời Chúa, chúng ta hãy mở rộng tâm hồn để Lời Chúa tác động trên chúng ta.“

Nhìn lên lễ đài với huy hiệu màu nhạt thật gọn được treo giữa nền trắng lớn vừa đủ để nói lên một tâm hồn đơn sơ và trong trắng, trong đó trung tâm điểm của đời sống người Kytô hữu với Thập giá, Bánh và Lời hằng sống.

Tấm phông chính của Đại Hội năm nay do Minh Tri (Bonlanden) thực hiện là bức hình con thuyền Giáo Hội với Thánh Giá và cuốn Thánh Kinh ghi Lời Chúa Mặc Khải, Ngài là Alpha và Omega, là Cội Nguồn và Cùng Đích của nhân loại, với trái địa cầu mầu da cam và vàng. Vòng tròn bên ngoài với hai hàng chữ mầu xanh biển: „Sống Lời Chúa – Năm Thánh Phaolô“... hai bên tổng cộng 14 ngôi sao: biểu tượng cho 14 thư của Thánh Phaolô. Mỗi bên có bẩy ngôi sao, biểu tượng 7 hồng ân cao cả của Chúa Thánh Thần tuôn đổ xuống các tín hữu. Các tấm hình treo ghi bẩy hồng ân của Chúa Thánh Thần treo hai bên phông chính của Đại Hội ghi tóm tắt bẩy hồng ân của Chúa Thánh Thần: Khôn Ngoan, Hiểu Biết, Biết Lo Liệu, Sức Mạnh, Thông Minh, đạo đức“, và Kính Sợ Chúa đã lôi kéo sự chú ý của toàn thể tham dự viên. Hai bên lễ đài là kiệu Đức Mẹ La Vang với ngàn hoa muôn sắc tỏ tình con thảo, nhân dịp cuối tháng Hoa Đức Mẹ.

Thánh lễ Vọng Chúa Thánh Thần hiện xuống do Linh mục Antôn Huỳnh văn Lộ chủ tế cùng với các Linh mục Tuyên Úy và các Linh mục khách đồng tế đến từ Pháp, Thụy Sĩ, Hòa Lan và đặc biệt hai linh mục tuyên uý cộng đoàn CGVN tại nước Tiệp, với phần chia sẻ của Linh mục Antôn Đỗ ngọc Hà đã kết thúc buổi lễ khai mạc vừa đúng lúc khi bầu trời trong sáng giữa mùa xuân đang dịu dần để nhường chỗ cho những ánh đèn đó đây đang như những bó đuốc được thắp lên trong tâm hồn những người trẻ đang mong chờ đến giờ sinh hoạt.

Khung cảnh ấm cúng của ánh nến mờ nhạt đưa bạn trẻ hướng vào ánh sáng tâm linh với những đoạn suy niệm, chia sẻ ngắn gọn xen lẫn với lời ca tiếng hát cùng với nhịp chân nhảy múa đang nối những ước mơ của tuổi trẻ thành một vòng tay lớn. Một vòng tay mà giáo hội và quê hương đang đặt rất nhiều kỳ vọng vào các bạn.

Sinh hoạt trẻ trong ĐHCG kỳ này được hướng dẫn bởi Lm. Lê Phan và Lm. Lê thanh Liêm cùng với sự đóng góp tích cực của nhóm “THANH NIÊN CÔNG GIÁO”. Số lượng giới trẻ mỗi năm một đông thêm, vì thế chương trình càng ngày thêm phong phú và đây cũng là điểm son đã nói lên được những ước mơ lớn cùng những đói khát tâm linh cho giới trẻ chỉ có mỗi năm một lần trong ĐHCG với thời gian quá ít ỏi. Xin chân thành cảm ơn nhóm “THANH NIÊN CÔNG GIÁO” đã hiểu rõ những đoạn đường mình vừa đi qua hoặc còn đang đi để dốc tâm chia sẻ cho các bạn trẻ khác. Công việc các bạn đang làm là những cánh tay đắc lực, giúp sức với các Linh mục Tuyên Úy trong mục vụ giới trẻ và cũng là một nghĩa cử cao đẹp của người con trong đại gia đình đã giúp những bậc phụ huynh, là cha, là mẹ của các bạn để lo tương lai cho các em.

Song song vào đó, tại phòng hội nhỏ giờ đền tạ Thánh tâm và Mẫu tâm thật trang nghiêm đã dẫn đưa bao nhiêu người mở lòng ra và tâm tình to nhỏ với Chúa trước khi tạm biệt một “Ngày Tâm Linh” trong thinh lặng.

Chúa Thánh Thể là nguồn suối tình yêu vẫn luôn là trung tâm điểm của Đại Hội. Quả thực, hàng trăm tín hữu đã sốt sắng tham dự các giờ chầu Thánh Thể đền tạ Thánh Tâm Chúa và Mẫu Tâm, và tiếp theo đó là giờ thánh kính Lòng Thương Xót Chúa do cha Đaminh Nguyễn Ngọc Long phụ trách hướng dẫn mãi tới tận đêm khuya chiều tối thứ bẩy. Các tham dự viên đã sốt sắng dâng các bông hoa hồng tượng trưng cho lòng con thảo.

Ánh nắng xiên qua cành cây kẽ lá, lấp lánh trong sương mai đang quyện với lời kinh sáng, lúc trầm lúc bổng vang ra từ hội trường lớn chính là giây phút của nguồn sinh lực thanh tịnh nhất để dâng của lễ lên Thiên Chúa đang được các Lm. và các Soeur MTG hướng dẫn.

Để chuẩn bị tâm hồn cho Thánh lễ, Lm. Nguyễn trọng Tước, thuyết trình viên chính của Đại Hội, đã dẫn dắt những tham dự viên trong buổi hội thảo tìm về Thánh địa Giêrusalem để theo con đường khổ nạn của Chúa Giêsu khi xưa, qua đấy mọi người mới hiểu rõ Lời Chúa và thực thi Lời Chúa một cách thiết thực hơn trong đời sống. Cũng trong buổi hội thảo này, ngài cũng đưa biết bao nhiêu người đang còn ngụp lặn trong “biển” của cuộc đời lên “bờ” để nhặt lại những “mẻ cá” tốt cho cuộc đời của mình. Quả là một đề tài chia sẻ đánh thức lương tâm đến nỗi nhiều tham dự viên đã tiếc thay cho những người vắng mặt trong buổi hội thảo này.

Cũng trong lúc này, giờ suy niệm Lời Chúa cho giới trẻ tại nhà thể thao do Lm. Lê Phan và Lm. Liêm phụ trách với sự cộng tác của nhóm “Thanh niên Công giáo” đã được hưởng ứng thật tích cực. Qua đấy các bạn trẻ sẽ tìm được Chúa trong cuộc sống tràn đầy ý nghĩa.

Thánh lễ Đại trào mừng kính Chúa Thánh Thần hiện xuống do Lm. Nguyễn trọng Tước chủ tế cùng toàn thể Lm. trong tuyên úy đoàn và các Linh mục khách được cử hành trọng thể với khoảng gần 3000 người tham dự. Trong phần chia sẻ Lời Chúa, ngài cũng đã giúp dẫn mọi người biết tìm lại ngọn “lửa” của Chúa Giêsu đã mang đến thế gian và gìn giữ ngọn lửa cũng như truyền ngọn lửa lại cho nhau để ngọn lửa hằng sống sưởi ấm tâm hồn nhau.

Sau phần Thánh lễ riêng biệt cho các em thiếu nhi do Lm. Phaolô Phạm văn Tuấn và Lm. Lê Phan đồng tế. Các em đã được hướng dẫn sinh hoạt theo chủ đề “tấm lưới cuộc đời” và vào cuối lễ các em trở lại hội trường chính để cùng hát tặng các bậc phụ huynh trước khi kết thúc với phép lành cuối Thánh lễ của toàn thể các linh mục đồng tế.

Ngay sau Thánh lễ, hình ảnh một cụ ông đang đỡ cụ bà rời khỏi hàng ghế và tay trong tay lê từng bước bên nhau là một dấu chỉ thật hùng hồn cho việc giữ “lửa” ấm cho nhau và cũng là một gương sáng cho cuộc sống hôn nhân của giới trẻ trong thời đại hiện nay.

Sau bữa ăn tinh thần, các tham dự viên được mời gọi để chia sẻ với nhau những phần cơm hộp gói đạm bạc để tiếp sức cho những chương trình kế tiếp.

Giờ sinh hoạt thiếu nhi, những mầm non của Giáo hội đang được các Soeur cùng với các anh chị huynh trưởng hướng dẫn, với những ca khúc vui tươi lành mạnh và những điệu múa hồn nhiên hòa lẫn tiếng cười khúc khích đã đưa các em đến tột đỉnh sự hồn nhiên của tuổi thơ. Năm tới cũng hẹn các em vào giờ này em nhé.

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2009

Nghề lái taxi ...


Gần đây có nhiều bạn gửu e.mail cho blog thân hữu yêu cầu viết lại bài " nghề taxi tại salzbug " . Theo yêu cầu đó chúng tôi viết bài này theo quan điểm mở rộng tầm nhìn trong nghề ngiệp giữa lúc " kinh tế khủng hoảng " . Không nhằm phê bình cũng như chỉ trích cá nhân nào vì " không có nghề nào xấu , chỉ có con người xấu "

Lái taxi là một nghề tự do :
-tự chọn cách đóng thuế theo nhu cầu
-tự chọn giờ giấc làm việc

Ghi tên tại :WIFI Salzburg
Julius Raab Platz 2, 5027 Salzburg
Telefon: +43/662/8888-411
E-Mail: info@wifisalzburg.at


Vorbereitungskurs Taxilenker-Prüfung Termine




Inhalt:
Straßenverkehrs- und Betriebsordnung für den nichtlinienmäßigen Personenverkehr - Gewerberecht - Grenzüberschreitender Verkehr - Beziehung zwischen Reisebüro und Personenbeförderer - Seuchenverordnung -Verkehrsgeographie - Geschichte des Landes Salzburg - Für den Fremdenverkehr wichtige Kenntnisse - Tarifkunde einschließlich Handhabung des Fahrpreisanzeigers.

Voraussetzung:
Zulassungsbedingungen zur Prüfung:
Vollendetes 20. Lebensjahr, Absolvierung einer Unterweisung in lebensrettenden Sofortmaßnahmen im Ausmaß von 6 Stunden sowie kein Führerscheinentzug bzw. keine groben Verkehrsauffälligkeiten in den vergangenen 5 Jahren, kein Probeführerschein. Die Einteilung zur Prüfung erfolgt im Rahmen des Kurses.


Hinweis:
Anmeldungen für die Kurse werden nur persönlich im Wirtschaftsförderungsinstitut, Julius-Raab-Platz 2, oder in den Bezirksstellen der Wirtschaftskammer entgegengenommen. Die Kursgebühr in Höhe von EUR 305,- (Kurs und Prüfung) ist bei der Anmeldung zu bezahlen. Näheren Details sowie den Prüfungstermin erfahren Sie im Kurs.
Bitte beachten Sie: Für die Zulassung zur Prüfung ist eine 100%-ige Anwesenheit im Kurs erforderlich!



36 Trainingseinheiten



Termine & Buchung
Preis

Sortierung: Datum Ort

18.09.2009 bis 26.09.2009
(75051019) 305,00 EUR

Zeit:
Stundenplan
Fr 13.00-21.00, Sa 8.00-19.00
Ort: WIFI Salzburg, (Julius - Raab - Platz 2, 5027 Salzburg)

Voraussetzungen erforderlich. Hier können Sie sich voranmelden.



16.10.2009 bis 31.10.2009
(75051069) 305,00 EUR

Zeit:
Stundenplan
16./17.10.2009 und 30./31.10.2009, Fr 13
.00-21.00, Sa 8.00-19.00
Ort: Bezirksstelle Pinzgau, (Schulstraße 14, 5700 Zell am See)

Kursplätze vergeben



13.11.2009 bis 21.11.2009
(75051029) 305,00 EUR

Zeit:
Stundenplan
Fr 13.00-21.00, Sa 8.00-19.00
Ort: WIFI Salzburg, (Julius - Raab - Platz 2, 5027 Salzburg)

Kursplätze vergeben



29.01.2010 bis 06.02.2010
(75051039) 305,00 EUR

Zeit:
Stundenplan
Fr 13.00-21.00, Sa 8.00-19.00
Ort: WIFI Salzburg, (Julius - Raab - Platz 2, 5027 Salzburg)

Kursplätze vergeben



19.03.2010 bis 27.03.2010
(75051049) 305,00 EUR

Zeit:
Stundenplan
Fr 13.00-21.00, Sa 8.00-19.00
Ort: WIFI Salzburg, (Julius - Raab - Platz 2, 5027 Salzburg)

Kursplätze vergeben



28.05.2010 bis 12.06.2010
(75051059) 305,00 EUR

Zeit:
Stundenplan
28./29.05. und 11./12.06.2010, Fr 13.00-
21.00, Sa 8.00-19.00
Ort: WIFI Salzburg, (Julius - Raab - Platz 2, 5027 Salzburg)

Kursplätze vergeben

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2009

Các bạn cần lưu ý khi ăn TÔM


Các bạn cần lưu ý khi ăn TÔM
Tại Đài Loan, một phụ nữ chết thình lình với dấu hiệu chảy máu, mũi, mồm, tai và mắt. Khám phá đầu tiên được chẩn đoán là chất vì ngộ độc thạch tín. Nhưng thạch tín ở đâu ra?

Cảnh sát mở một cuộc nghiên cứu sâu rộng. Một giáo sư y khoa được mời đến giải quyết trường hợp này. Bác sĩ quan sát tỉ mỉ các thành phần trong dạ dày người chết chưa tới nửa giờ. Bí mật đã được giải quyết. Bác sĩ nói:"Người chết không tự tử, không bị giết. Bà chết tức tửi vì tội coi thường.

Mọi người điên đầu. Tại sao chết tức tửi? Có phải thạch tín của quân đội My nằm Trong gạo?

Bác sĩ nói chất thạch tín được tạo ra trong dạ dày người chết. Người chết dùng Vitamin C mỗi ngày. Vitamin C tự nó không thành vấn đề. Vấn đề là bà ta ăn nhiều tôm vào bữa tối. Ăn tôm cũng không thành vấn đề vì nhiều người trong gia đình bà ta cũng ăn tôm tối hôm đó. Tuy nhiên, cùng lúc bà ta lại uống Vitamin C. Dó chính là vấn đề.


Các nhà nghiên cứu thuộc đại học Chicago ở Mỹ qua một thí nghiệm đã tìm ra vỏ mềm của tôm chứa nhiều postasium 5 tổng hợp với thạch tín thánh Arsenic Oxide (As2O5). Những thực phẩm tươi này cũng không độc đối với cơ thể con người. Tuy nhiên, ngay lúc đó uống Vitamin C vào, phản ứng hoá học xảy ra, Arsenic Oxide sẽ chuyển thành ADB arsenic anhydride (As203) la chất thường dùng để vẽ viền vàng các chén đĩa. Chất Arsenic độc này làm tê liệt các mạch máu nhỏ của của tim, gan, thận, ruột và biểu mô, gây xuất huyết tai, mắt, mũi, miệng.

Vậy khi uống Vitamin C, không nên ăn tôm có vỏ.

Tản mạn Salzburg ...nqv

“CHIÊN TÔI, TÔI BIẾT CHÚNG, VÀ CHÚNG THEO TÔI” - Lm. LÊ QUANG UY, DCCT
mời bạn bấm vào đây để nghe .

LINH MỤC THEO CÁI NHÌN CỦA J.J. OLIER
Xuân Bích Việt Nam

“Linh mục là người mang lấy những lợi ích của Giáo Hội và xuất hiện như thế trước nhan Thiên Chúa. Ngài là tôi tớ của Giáo Hội và hy sinh chính mình vì lợi ích của Giáo Hội…



Linh mục có trách nhiệm sám hối đền tội thay cho toàn thể Giáo Hội…

Nếu linh mục không thể mang nơi mình sự sám hối đền tội bên ngoài, thì chớ gì ngài luôn được tràn đầy lòng sám hối đền tội bên trong…

Đối với tinh thần cầu nguyện và thờ phượng, nó phải phổ quát nơi vị linh mục, hoàn toàn như tinh thần sám hối đền tội. Bởi thế ngài phải cầu nguyện cho mọi người…Tâm hồn của ngài phải rộng lớn như Giáo Hội…

Hỡi linh mục tông đồ, cho dù ngươi là ai, nếu ân sủng của ngươi bao la và rộng lớn , thì nỗi đau khổ và việc sám hối đền tội của ngươi cũng phải kiên quyết và mãnh liệt dường bao ! Nếu ân sủng và ơn gọi của ngươi là tông đồ, thì do đó ngươi phải biết lo lắng cho tất cả mọi người…

Để là một linh mục đích thực, linh mục phải mang nơi mình Chúa Giêsu Kitô, thánh hoá các linh hồn bằng sự hiện diện của Ngài… Các linh mục, dù thánh thiện do bên ngoài gần gũi Chúa Giêsu.., nhưng họ không thánh hoá bằng vẻ bên ngoài của họ, nhưng bằng chính cái thâm sâu của tâm hồn họ đã được biến đổi trong Chúa Giêsu Kitô hằng sống và ban sự sống của chính Ngài cho Giáo Hội. Đó là những gì mà hết thảy các linh mục, đặc biệt các linh mục của Hội Thánh Thể (các linh mục Xuân Bích) phải thể hiện : Đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu Kitô trong mầu nhiệm Thánh Thể mà họ tuyên xưng tôn thờ.

Những gì mà linh mục phải phục vụ : để làm cho người khác gặp gỡ và yêu mến Thiên Chúa nơi họ, các linh mục cũng phải cho con người hy vọng có thể bắt chước Thiên Chúa trong cuộc sống hiện tại, đang khi chờ đợi cuộc sông tương lai…”

Trích trong Mémoires inédits của J.J. Olier


Lang thang trên đường phố , nqv nghe được những chuyện buồn vui , miệng qua miệng nên chẳng có gì là " thật " , gửi lên đây cho bà con cô bác đọc qua rồi bỏ , ai khó chịu , bực dọc ... táo bón ráng chịu .

Chính trị là gì ?

Bà x: này ông ,cứ thấy ông chính trị chính em , vậy chính trị là khỉ gì ?
Ông y: chính trị là ...là ...thí dụ :Một hôm người bố mới hỏi đứa con:Con có biết chính trị là gì ko?
Đưa con Lắc đầu
Người bố liền nói: Con hãy hình dung như thế này,Cha là người làm ra tiền ở nhà mình thì được gọi là tầng lớp tư sản,hàng tháng lĩnh lương lại bị mẹ con lấy thì mẹ con được gọi là tầng lớp chính quyền,cô giúp việc ở nhà mình thì gọi là người lao động,còn con đang đi học thì gọi là tầng lớp trí thức,còn em con còn nhỏ thì được gọi là thế hệ tương lai của đất nước.
Đên hôm đó đứa em ỉa đùn, thế là nó chạy sang phòng bố mẹ gọi để thay quần cho em nhưng kêu gào mãi mà chẳng thấy ai lên tiếng nó liền trở về phòng, ngủ với bịch ...kít
Sáng hôm sau ngủ dậy người cha mới hỏi nó
Thế con đã biết chính trị là gì chưa?
Nó liền gật đầu rồi ạ!Chịnh trị là tầng lớp trí thứ thì kêu gào nhưng chính quyền thì ngủ quên, tầng lớp tư sản thì đè đầu cưỡi cỗ người lao động thế hệ tương lai thì gục mặt dưới ...C...

bà x: thế mà tui chưa biết ...

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2009

sau Matura ... nqv


Con em của bạn đã tốt nghiệp bậc trung học , đã có Matura , vậy sau đó sẽ làm gì ? Bạn là bậc cha mẹ thế nào cũng có những suy nghĩ để đóng góp với sự lựa chọn của con cái , hoặc ít ra cũng tìm hiểu xem con cái của bạn muốn gì ? cho bước đường tương lai ...

Đây không phải là bài viết của nqv mà là một sưu tầm từ những người có kinh nghiệm trong nghành giáo dục , mong giúp cho bạn nào cần thiết .
Fachhochschule in Urstein Sbg


thế nào là Fachhochschule : là trường đại học đào tạo thường là đến cử nhân (Bachelor)hoặc Master , fachhochschule không nhằm đào tạo dài hạn như đại học ( Universität) cao học , tiến sĩ .
như ở Salzburg:

Bachelor (14)
Salzburg Studium Bachelor - 14 Studiengänge

ALLE EINTRÄGE
Bildungsangebot/Studiengang Ort Absch. Art Dauer
Betriebswirtschaft [bwi] Salzburg B.A. VZ/BB 6 Semester
Biomedizinische Analytik [bma] Salzburg B.Sc. VZ 6 Semester
Design & Produktmanagement [dpm] Kuchl B.A. VZ 6 Semester
Ergotherapie [eth] Salzburg B.Sc. VZ 6 Semester
Hebammen [heb] Salzburg B.Sc. VZ 6 Semester
Holztechnologie & Holzbau [htb] Kuchl B.Sc. VZ 6 Semester
Informationstechnik & System-Management [its] Salzburg B.Sc. VZ/BB 6 Semester
Innovation & Management im Tourismus [imt] Salzburg B.A. BB 6 Semester
Innovation and Management in Tourism [imt-e] Salzburg B.A. BB 6 Semester
MultiMediaArt [mma] Salzburg B.A. VZ 6 Semester
MultiMediaTechnology [mmt] Salzburg B.Sc. VZ 6 Semester
Orthoptik [otk] Salzburg B.Sc. VZ 6 Semester
Physiotherapie [pth] Salzburg B.Sc. VZ 6 Semester
Radiologietechnologie [rat]

như bạn nhìn thấy bảng trên ,chương trình gồm 6 semester mỗi semester kéo dài khoảng 6 tháng .

nếu con bạn đã học xong nghề thì làm sao ? vẫn có thể vào FHS với các điều kiện :thm khảo ở đây

-Studium ohne Matura

Qualifizierung für Personen mit Lehr- oder Fachschulabschluss

Das Studium an der Fachhochschule bietet nicht nur MaturantInnen faszinierende Berufsaussichten, sondern eröffnet auch interessierten Personen mit Lehr- oder Fachschulabschluss neue Chancen einer beruflichen Weiterentwicklung. Um auch BewerberInnen ohne Matura den Zugang zu einem Hochschulstudium zu ermöglichen, bietet die FH Oberösterreich einem Lehrgang zur Erlangung der FH-Studienbefähigung an: eine 2-semestrige berufsbegleitende, thematisch und modular optimal abgestimmte und kostenlose Vorbereitung auf ein Studium an der FH OÖ.

Nếu con em bạn chọn thẳng vào Universität thì có thể chọn ngành mà không có bên FHS hoặc theo đuổi học hành tới khi nào mệt ... có tiền trợ cáp Stipendium đến 27 tuổi so với sự thu nhập của cha mẹ .

Universität Salzburg :

* Alte Geschichte
* Anglistik u. Amerikanistik
* Archäologie
* Biologie
* Erdwissenschaften
* Erziehungswissenschaft
* European Union Studies
* Geographie
* Germanistik
* Geschichte
* Informatik
* Ingenieurwissenschaft
* Klassische Philologie
* Kommunikationswissenschaft
* Kunstgeschichte
* Linguistik
* Mathematik
* Molekulare Biologie
* Musik- und Tanzwissenschaft
* Philosophie
* Politikwissenschaft
* Psychologie
* Psychologie & Philosophie LA
* Recht und Wirtschaft
* Rechtswissenschaft
* Romanistik
* Slawistik
* Soziologie
* Sportwissenschaft
* Theologie
* Doktorrat KGW
Bạn tham khảo ở đây

chúc bạn an lành

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2009

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2009

KHI ĐỜN BÀ NẮM QUYỀN ...nqv

Chuyện phiếm của Gã Siêu :
KHI ĐỜN BÀ NẮM QUYỀN

Vừa mới nhận được một chuyện vui nho nhỏ, viết về đờn bà con gái, gã xin kể lại đây để bàn dân thiên hạ cùng suy gẫm và nhận định xem thực hư như thế nào.

Số là ông vua xe hơi, Henry Ford, sau khi chết được đưa lên thiên đàng. Tại cổng thiên đàng đã có thánh Phêrô đứng chờ sẵn để đón chào. Vừa gặp ông ta, thánh Phêrô đã mỉm cười và cho biết :
- Hồi còn sống, ngươi đã làm nhiều điều lợi ích cho xã hội, chẳng hạn như đã sáng chế ra phương pháp dây chuyền, làm cho kỹ nghệ xe hơi thay đổi cả và thế giới. Với thành quả này, ngươi sẽ được một ân huệ, đó là có thể chuyện trò với bất cứ ai ở trên thiên đàng.

Suy nghĩ một lát, ông ta xin được gặp Thượng Đế. Và thế là thánh Phêrô bèn lập tức dẫn ông ta ra mắt Thượng Đế. Vừa gặp Ngài, ông ta liền hỏi ngay :
- Thưa Ngài, lúc chế tạo ra đờn bà con gái, Ngài đã suy nghĩ như thế nào ?
Thượng Đế nghe xong, bèn vặn lại :
- Ngươi nói như vậy là có ý nghĩa gì ?
Ông ta bèn trả lời :
- Sản phẩm của Ngài còn có quá nhiều sơ sót. Phía trước thì bị phồng lên, còn phía sau thì lại bị nhô ra. Máy thường kêu to mỗi khi chạy nhanh. Tiền bảo trì và nuôi dưỡng quá cao. Thường xuyên đòi hỏi nước sơn mới. Cứ đi hai mươi tám ngày, thì lại bị chảy nhớt và không làm việc được. Chỗ bơm xăng và ống xả lại quá gần nhau. Đèn trước hơi bị nhỏ. Tiêu thụ nhiên liệu thì nhiều khủng khiếp.
Thượng Đế nghe qua liền bảo :
- Ngươi hãy đợi ta một chốc để ta xem lại bản thiết kế.
Thượng Đế bèn cho triệu tập toàn bộ các kỹ sư thiết kế và cơ khí trên thiên đàng lại để xem xét quá trình thi công. Sau một thời gian…“ngâm kíu”, họ trình lên Thượng Đế một bản báo cáo.
Xem xong bản báo cáo này, Thượng Đế bèn phán rằng :
- Mọi điều ngươi vừa nói, đều hoàn toàn đúng. Bằng sáng chế của ta thật có nhiều sai sót. Thế nhưng, nếu tính về phương diện kinh tế, thì hiệu quả lại rất cao : Có gần 98% đờn ông con giai trên thế gian xài sản phẩm do Ta chế tạo, trong khi đó chưa đầy 10% đờn ông con giai xài sản phẩm của ngươi.

Từ câu chuyện trên, gã nghiệm ra rằng thì là : nhân vô thập toàn. Ai cũng có những sai lỗi khuyết điểm của mình, chẳng riêng gì đờn bà con gái, mà ngay cả đờn ông con giai cũng thế mà thôi. Phải chăng điều đó cũng đã được Thượng Đế tính toán, cũng như đã được nằm sẵn trong chương trình và ý định tuyệt vời của Ngài.

Thực vậy, nếu Ngài dựng nên con người trong tình trạng hoàn hảo và thánh thiện, thì có lẽ lúc bấy giờ thế gian này sẽ chán phèo và buồn tênh, bởi vì nó phẳng lặng như mặt nước hồ thu và con người sẽ chẳng còn tạo được cho mình một chút công trạng nào cả. Với những khuyết điểm mang trong thân phận, con người phải cố gắng, phải phấn đấu từng giây từng phút. Chính những cố gắng và phấn đấu này đã góp phần làm nên vẻ đẹp của con người.

Từ ngàn xưa, các cụ ta vốn thường quan niệm :
- Gái trong khung cửi, giai ngoài chân mây.
Có nghĩa là đờn bà con gái thì lo quán xuyến những công việc trong nhà, như bếp núc và nuôi dạy con cái. Còn đờn ông con giai thì lo gánh vác những công việc ngoài ngõ, tức là những công việc mang tính cách xã hội.
Tuy nhiên, trong những tháng năm gần đây, nhất là kể từ khi phong trào giải phóng phụ nữ, hay nói cách khác kể từ khi phong trào đờn bà con gái vùng lên đòi bình đẳng với đờn ông con giai, thì phe ta dần dần thoát ra khỏi ngưỡng cửa gia đình, để dấn thân vào xã hội và cũng đã gặt hái được những thành công rạng rỡ, chẳng thua gì cánh mày râu.

Chẳng hạn như bà Golda Meir, một khuôn mặt chính trị sáng giá của Do Thái. Bà đã từng giữ chức bộ trưởng ngoại giao từ năm 1956 đến năm 1966, rồi nắm giữ chức thủ tướng từ năm 1969 đến năm 1974. Tuy mang tiếng thuộc về phe liễu yếu đào tơ, nhưng bà đã thực sự dùng những biện pháp mạnh trong đường lối lãnh đạo của mình.

Chẳng hạn như bà Margaret Thatcher, cũng là một khuôn mặt chính trị sáng giá của dân Ăng Lê. Bà là lãnh tụ của đảng Bảo Thủ vào năm 1975, giữ chức thủ tướng suốt ba nhiệm kỳ, từ năm 1979 đến năm 1990, và cũng đã dùng những biện pháp mạnh để giải quyết các vấn đề bang giao quốc tế, thí dụ việc sử dụng quân đội chống lại Argentina về hòn đảo Falkland.

Và theo sự đánh giá của bàn dân thiên hạ, thì hiện nay có hai phụ nữ quyền lực nhất thế giới, đó là bà Angela Merkel, thủ tướng nước Đức và bà Condoleezza Rice, bộ trưởng ngoại giao của Mỹ…Và còn rất nhiều khuôn mặt đờn bà con gái khác đang từng làm mưa làm gió tại nhiều lãnh vực khác nhau.

Tuy nhiên, dù ở trong nhà hay ở ngoài ngõ, thì một nét duyên ngầm, nhưng lại rất hấp dẫn của đờn bà con gái, đó là sự dịu hiền và tế nhị được biểu lộ qua từng ánh mắt, từng lời nói, từng cử chỉ, khiến cho phe đờn ông con giai phải chết mê chết mệt, chết đứ chết đừ.
Thế nhưng trong cuộc sống, đôi khi chúng ta cũng gặp phải những người đờn bà rất hung dữ, chẳng còn tí tẹo nào là dịu hiền và tế nhị. Sự hung dữ này rất có thể do di truyền và nằm sẵn trong máu huyết, trong lục phủ ngũ tạng của họ. Bản chất của họ là hung dữ, theo kiểu phát biểu của Nho giáo :
- Nhân chi sơ, tính vốn…dữ.
Gã xin đưa ra hai trường hợp.
Trường hợp thứ nhất tiêu biểu cho trường phái phương tây, đó là bà vợ của Socrate.
Hẳn rằng nhiều người trong chúng ta đã biết Socrate là một triết gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ xưa, lý thuyết của ông còn ảnh hưởng cho tới ngày nay, thế nhưng tai hại thay, ông lại là nạn nhân của một bà vợ hung dữ. Bà đã khinh thường ông, coi ông chỉ là hạng “dài lưng tốn vải”, cũng như “trói gà không chặt”.
Có lần sau một trận xỉ vả thậm tệ, tức quá bà liền đổ cả một chậu nước dơ lên người ông, nhưng ông vẫn thản nhiên nói với mọi người :
- Trời có sấm sét, ắt hẳn sẽ đổ mưa.
Lần khác, bà đã hất tung hất té mâm cỗ ra ngoài sân. Mâm cỗ mà ông đã cẩn thận làm để đãi bạn bè. Và thế là ông bèn ngồi yên lặng nhặt lên cho bằng hết. Món nào còn ăn được thì ăn, bằng không thì bỏ đi, mà chẳng than van một lời.

Trường hợp thứ hai tiêu biểu cho trường phái phương đông, đó là bà vợ của Trần Qúi Thường.
Theo điển tích người xưa, thì chúng ta được biết : Trần Quí Thường, quê tại tỉnh Hà Đông bên Tàu, có một người vợ nổi tiếng hung dữ. Mỗi lần Tô Đông Pha đến chơi, thì đều được nghe bà vợ này la hét, chửi bới thật ồn ào và quá đáng.
Thấy vậy, thi sĩ dòng họ Tô mới làm một bài thơ châm biếm, trong đó có câu :
- Hốt văn Hà Đông sư tử hống,
Trụ tượng lạc thủ tâm mang mang.
Có nghĩa là :
- Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,
Tay run, gậy rớt, lòng kinh hãi.

Từ điển tích này, người ta mới dùng cụm từ “sư tử Hà Đông” để ám chỉ người vợ hung dữ. Tuy nhiên, ngoài cụm từ này, bàn dân thiên hạ còn dùng một vài danh xưng khác nữa.
Chẳng hạn danh xưng “bà chằn”. Theo truyện thần thoại, thì chằn là một con yêu tinh dữ tợn và hay ăn thịt người, đã bị Thạch Sanh giết chết. Vì thế hai chữ bà chằn được dùng để chỉ người đờn bà hung dữ.
Chẳng hạn danh xưng “bà la sát”. Theo tiếng Phạn (Ấn Độ), thì bà la sát là một con quỷ ăn thịt người. Dựa vào đó, người bình dân dùng ba chữ bà la sát để chỉ người đờn bà hung dữ, mặc dù chữ bà trong tiếng Phạn và trong tiếng Việt chỉ đồng âm mà thôi, chứ không đồng nghĩa một tí ti nào cả.

Nếu nhái theo tựa đề tập thơ “Em là gái trời bắt xấu”, thì có những người, đờn bà cũng như đờn ông, vốn hung dữ tự bản tính : Thoạt sinh ra thì đã hung dữ. Nhưng có nhưng người, đờn ông cũng như đờn bà, do hoàn cảnh bên ngoài tác động mà trở nên hung dữ.
Thực vậy, có những bà và những chị, tự bản chất vốn hiền như ma…sơ, thế nhưng, một khi đã nắm được tí quyền trong tay, hay một khi đã kiếm được nhiều tiền, không cần phải cậy dựa vào người chồng nữa, thì bỗng nhiên trở thành hung dữ.
Sự hung dữ ở đây cần phải được hiểu về cả ba phương diện : tư tưởng, lời nói, cũng như việc làm. Về tư tưởng thì luôn áp đặt những ý nghĩ của mình lên chồng con theo kiểu cả vú lấp miệng em. Về lời nói thì sẵn sàng tuôn ra những ngôn từ đao to búa lớn và không ngần ngại chửi bới, tung hê và văng đủ thứ ra cho chồng con xơi. Về việc làm thì luôn dùng biện pháp mạnh, thượng cẳng chân hạ cẳng tay, mặc dù mình chỉ là phái…yếu.

Gã xin đưa ra một thí dụ cụ thể. Thí dụ này được trích từ một bài viết mang tên “Khi vợ gia trưởng” của Văn Nhuệ, được đăng trên tuần báo Gia đình số 38, năm 2006.
Chị là một người năng động, giỏi giang và rất có năng lực quản lý. Chẳng thế mà con đường thăng tiến của chị được bạn bè ví lên “như diều gặp gió”. Chị được đề bạt làm phó giám đốc một công ty lớn và luôn được “uy” với cấp dưới. Ở cơ quan, chị quyết định chuyện gì, thì cấp dưới phải nhất nhất thi hành.
Khi về nhà, chị cũng thể hiện “năng lực quản lý” ấy đối với chồng con. Phải thừa nhận chị là một người đảm đang. Dù bận bịu với công việc ở cơ quan, nhưng chị vẫn quán xuyến mọi chuyện trong nhà. Sau giờ làm việc, về đến nhà chị xắn tay áo lao vào chuyện bếp núc, chuyện học hành của con cái, cũng như công việc của chồng.
Trong nhà ai có việc riêng tư gì, thì chị cũng tham gia giải quyết và yêu cầu người đó thực hiện những gì mình đã chỉ bảo. Con trai đi dự sinh nhật bạn gái, chị dắt đi mua quà tặng vì cho rằng :
- Phải tặng quà làm sao để người nhận không đánh giá thấp người nhà mình. Chồng chị có chuyện xích mích với đồng nghiệp, chị yêu cầu anh giải quyết theo phương án của chị, mặc cho anh phân tích những cái sai trong phương án ấy. Nhiều khi chị còn tự ý đi gặp đồng nghiệp của chồng để dàn xếp, khiến anh bị một phen mất mặt. Chị không yên tâm khi chồng con quyết định bất cứ sự gì. Chị tin rằng cách giải quyết của chị mới đạt hiệu quả nhất. Chị không cho ai bàn bạc. Chị không cần ai góp ý. Chị thường nhắc đi nhắc lại điệp khúc :
- Tôi đã quyết định thì mọi người phải nghe theo…
Khi chồng con phản đối, thì chị lý sự :
- Tôi làm thế chỉ vì muốn mang lại điều tốt cho mọi người.
Chị yêu cầu chồng sau giờ làm việc không được đi uống bia hay la cà với bạn bè, vì chị khẳng định : tại những nơi ấy đều có những tệ nạn xã hội. Chị mua sắm vi tính, nhưng nhất định không chịu cài đặt internet vì sợ chồng con truy cập các trang Web “đen”.

Mỗi buổi sáng, trước khi đến sở, chị căn dặn chồng con phải làm việc này việc kia. Và ban tối, chị kiểm điểm chồng con xem đã thực hiện như thế nào. Việc gì không làm được, thì chị lên mặt “dạy chồng”, “chửi con”. Chị có quá nhiều yêu cầu đối với chồng con, song bản thân lại tự cho mình quyền được làm “mọi chuyện mình thích”. Với chị mọi người làm cái gì cũng sai, còn cái đúng luôn thuộc về chị.
Hậu quả là con cái vì sợ chị nên không dám cãi lời. Còn chồng chị thì mỗi ngày một “chán vợ” hơn.
Theo những nhà… ”ngâm kíu” thì hiện nay nhiều anh chồng đang có xu hướng “thuần” và qui phục chị vợ hơn. Rất có thể đây là kết quả của công trình “nuôi chồng khỏe, dạy chồng ngoan” của chị vợ. Trong gia đình, vì nhiều nguyên nhân có khi vì quá thành công trên đường đời, có khi vì những thất bại chua cay, anh chồng đang âm thầm nhường lại quyền làm chủ cho chị vợ. Chính vì thế, chị vợ thừa thắng xông lên, dễ dàng lấn át vị trí của anh chồng, dường như chị ta đứng ở một vị trí cao hơn để chỉ huy mọi người trong nhà.
Để diễn tả tình trạng này người xưa đã dùng câu tục ngữ :
- Lệnh ông không bằng cồng bà.

Thực vậy, lệnh là cái chiêng đồng nhỏ, tiếng thanh, thường được dùng làm hiệu xuất quân. Còn cồng là cái chiêng đồng lớn, tiếng trầm, thường được dùng làm hiệu thu quân. Mặc dù ông phát lệnh xuất quân, nhưng nếu bà đánh cồng để thu quân, thì tiếng cồng chắc chắn sẽ át tiếng lệnh, khiến mọi người cứ phải theo đó mà rút lui.

Tại nhiều gia đình, gã thấy quyền hành của chị vợ…to lớn hơn quyền hành của anh chồng gấp bội. Và cũng từ đó, người ta sử dụng câu nói đùa này để chế diễu các ông chồng…sợ vợ!
Tuy nhiên, các chị vợ cũng cần phải lưu ý : sự chịu đựng cũng như nhường nhịn nào cũng có giới hạn của nó, bởi vì tức nước vỡ bờ, tới lúc người chồng không thể nào chịu đựng, nhường nhịn, và nể nang được nữa, thì buộc lòng phải phản ứng lại. Và những phản ứng lúc bấy giờ thường là những phản ứng gắt gao và thảm khốc, gây nên những đổ vỡ.
Không thiếu gì những người chồng vốn nổi tiếng hiền lành, nhưng một khi đã tức giận, thì lại thường cộc cằn, phản ứng một cách quyết liệt và mạnh mẽ.
Được hỏi về chuyện sợ vợ của mình, phần lớn các anh chồng đều đồng ý với câu trả lời như sau :
- Chúng tôi chẳng hề sợ vợ, vì nếu sợ thì còn đâu là cái bản lãnh của một đấng tu mi nam tử. Chẳng qua chỉ vì chúng tôi nể vợ mà thôi, không muốn làm to chuyện, khiến cửa nhà bị tan hoang. Nếu có đôi co và cãi vã, hàng xóm biết được, thì chỉ tổ “xấu thiếp hổ chàng”. Thôi thì cứ nhịn đi cho xong chuyện.
Vì vậy, đừng thấy chồng cả nể mà đã vội được đàng chân lân đàng đầu, mặc sức o ép chồng con. Sự hiền lành và tế nhị bao giờ cũng là nét duyên thầm của người phụ nữ. Chẳng thế mà nền luân lý Khổng Mạnh ngày xưa đã đòi hỏi người con gái phải có tứ đức : công, dung, ngôn, hạnh.

Để kết luận, gã xin kể lại một thí dụ cụ thể khác nữa :
Trong những lúc ngồi hàn huyên tâm sự với bè bạn, chị thường khoe chồng mình là một người hiền lành như…cục đất. Chẳng bao giờ dám nổi nóng đánh đập hay chửi bới vợ con. Tuy nhiên, đối lập với sự điềm đạm và ít nói của anh là tính cách nóng “như Trương Phi” của chị. Không ít lần giận chồng và bực con, chị đã đập phá chén bát, quẳng vứt đồ đạc, thét lên những lời quá quắt khó nghe, khiến bố con anh tròn mắt hãi hùng.
Vẫn bằng cái giọng tự tin thái quá, chị luôn thanh minh thanh nga :
- Tính mình hễ tức giận là sôi máu lên, không thể kiềm chế được, phải đá thùng đụng nia, hoặc xả hết những dồn nén trong lòng ra ngay lập tức. Cũng may mà ông xã nhường nhịn, không cố chấp, chứ nếu chẳng ai chịu nhường ai, thì có lẽ đã lôi nhau ra tòa từ lâu rồi.
Chị cười cười, thừa nhận sự nóng nảy cộc cằn đã thấm sâu vào bản chất của chị, nên dù biết là sai mà vẫn cứ chứng nào tật nấy…Thế nhưng, trong thâm tâm chị vẫn tự hào về khả năng điều khiển chồng và vị trí làm gia trưởng của mình.
Anh là người hiền lành, thương vợ thương con và sống có trách nhiệm với những người thân yêu. Chẳng bao giờ anh quát mắng, chỉ trích hay dằn vặt cả khi chị và hai đứa con lỗi lầm và sai phạm. Anh luôn nỗ lực xây dựng bầu không khí đầm ấm, yên vui, tràn ngập thường xuyên trong gia đình.
Trái ngược với anh, chị là một phụ nữ luôn thích ăn to nói lớn, có gì chướng tai gai mắt là không để bụng được, phải nói hụych toẹt ra cho bõ tức. Chính vì tính cách này mà từ thời con gái cho đến bây giờ, chị đã gây hiểu lầm và làm mất lòng không ít người.
Những lúc vợ chồng gần gũi và tâm tình, anh thường nhẹ nhàng khuyên bảo chị nên sửa bỏ thói tật ấy, bởi vì sự nóng vội chẳng giải quyết được việc gì, mà còn làm cho mọi chuyện thêm rắc rối, phức tạp, thậm chí còn hạ thấp giá trị của chính mình. Hơn thế nữa, thói tật này càng không nên có ở người phụ nữ, vì nó làm mất đi vẻ dịu dàng, thùy mị, vốn là những đặc tính gắn liền với phái đẹp. Chị ậm ừ cho qua chuyện, chứ không để tâm tiếp thu ý kiến xây dựng của anh.
Chị cứ đinh ninh rằng anh quá hiền lành, nên mình có thiếu nữ tính một chút cũng chẳng gây nên hậu quả gì nghiêm trọng. Chính vì những suy nghĩ nông cạn ấy, nên chị chẳng những không làm cho mình đẹp hơn trong mắt anh, mà còn vô tình đẩy anh vào trạng thái hụt hẫng và thất vọng. Chị đâu ngờ rằng điều đó đã ảnh hưởng nặng nế tới cuộc hôn nhân của anh chị.
Lần ấy, mấy người bạn học cũ đang công tác ở miền quê, mới có dịp lên tỉnh, nên đã đến thăm vợ chồng chị, rồi họ rủ nhau ra quán bia ở đầu phố “liên hoan đánh dấu buổi gặp gỡ khó quên này”. Không muốn chồng sa đà vào nhậu nhẹt, chị định ngăn cản, nhưng thấy anh tíu tít, hớn hở cùng bạn ôn lại những kỷ niệm thời học trò, nên chị đành miễn cưỡng để họ kéo anh đi.
Suốt từ bốn giờ chiều cho tới mười giờ tối, lòng chị nóng như lửa đốt, đứng ngồi không yên. Từ ngày lấy nhau, chưa bào giờ anh chè chén về muộn khiến chị phải lo lắng như lúc này. Chuông đồng hồ điểm mười một tiếng. Chị đùng đùng nổi giận đi về phía quán bia, bụng bảo dạ :
- Phải cho cả bọn một bài học.
Xuất hiện giữa đám bạn đang cười nói rôm rả của anh, chị xối xả mắng chửi anh là phường mê rượu chè, chẳng đếm xỉa gì đến vợ con ở nhà phải trông chờ và lo lắng. Chị gạt phăng lời giải thích của anh :
- Bạn bè xa cách lâu ngày mới gặp lại đông đủ, nên vui quá không để ý tới thời gian.
Chị lôi tay chồng và nói như ra lệnh :
- Anh về nhà ngay, phải biết chọn bạn mà chơi. Những người này lần sau đừng có hòng đặt chân tới nhà của tôi.
Ông chủ quán khuyên chị có gì thì cũng nhẹ nhàng mà nói, vì trời đã khuya, chớ quấy rầy hàng xóm. Thế nhưng, chị bèn quay sang rủa ông là kẻ hám lợi, lại còn bênh vực và chứa chấp những thằng say rượu.
Tới nước này thì anh không còn im lặng như những lần trước, mà bất ngờ giật mạnh tay ra khỏi sự co kéo của chị và giơ thẳng cánh tát chị một cái nổ đom đóm mắt :
- Cô im ngay. Tôi cấm cô không được phép xúc phạm tới những người bạn thân của tôi.
Chị không chịu thua, mà còn lu loa, gào thét to hơn, khiến cuộc gặp mặt của anh và các bạn đang vui bỗng trở thành…bi kịch. Anh hổ thẹn với bạn bè vì có một người vợ thô lỗ, không biết cách đối nhân xử thế.
Sự kiện này là như giọt nước tràn ly, bởi vì sau đó anh đã quyết định ly hôn trước sự ngỡ ngàng của chị… (Phụ nữ Chủ nhật, số 41, ngày 15.10.2006).
Cùng một thể thức ấy, gã nghĩ rằng :
- Một cọng rơm, cũng có thể làm gãy lưng con lạc đà!!!

Gã Siêu gasieu@gmail.com

Chuyện phiếm của Gã Siêu.
15-5-2009 dongcong.net

Thánh Thần Xin Hãy Đến ... karaoke

Thánh Thần Xin Hãy Đến
Để soi sáng cho chúng con : đâu là sự thật , đâu là dối trá , bịp bợm
đâu là tranh chấp quyền lợi cá nhân :

" Thầy đến để rửa chân cho các con ... " trích Phúc âm thánh Gio-an .



Kinh Hòa Bình

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2009

Cộng Ðoàn Antony ... tại Pháp

Để tìm hiễu thêm về cộng đoàn Công Giáo : Một thí dụ về cách thành lập.
Thế nào là cha tuyên úy
Cha Tuyên úy là một Linh Mục nhưng được được trao thêm trách nhiệm Tuyên Úy cho một hay nhiều đoàn thể mà thôi.
Trách nhiệm và vai trò của các cha Tuyên Uý là: lãnh đạo, linh hướng, cố vấn, huấn luyện tinh thần đạo đức, và nhất là lưu tâm nâng đỡ và khuyến khích các sinh hoạt của một đoàn thể nào đó như : Thiếu nhi Thánh Thể, Ca đoàn, huynh đoàn Đa Minh ...
Giải thích của Shalom ( yahoo ask)
Cộng Ðoàn Antony

Cộng đoàn Antony nằm trong xứ Saint Jean Porte Latine, thuộc giáo phận Nanterre (miền 92), được nảy sinh trong ánh sáng Phục Sinh và đi vào sinh hoạt dưới sự phù hộ của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, qua diễn tiến như sau :

Lễ Phục Sinh 27-3-2005, ba ông Nguyễn Tính Nghĩa, Phạm Văn Chương và Lê Trân có sáng kiến tổ chức Thánh Lễ Phục Sinh, lúc 10g30, cho người Việt Nam, tại nhà nguyện Sainte Jeanne de Chantal, qua sự đồng ý và hỗ trợ của linh mục Vincent Scheffels, cha sở xứ Saint Jean Porte-Latine. Từ Ánh Sáng Chúa Phục sinh này, ba ông bàn họp, gửi thư cho anh chị em công giáo trong miền Antony và chung quanh, để thăm dò thành lập một cộng đoàn VN. Nhiều thư trả lời góp ý tích cực khuyến khích. Tiếp sau đó mấy tháng, các ông đã mời được cha Nguyễn Kim Ngôn và Cha một cha sinh viên thay nhau đến dâng lễ, vào Chúa nhật thứ 2, lúc 11g30. Tình cộng đoàn được nhen nhúm. Ý kiến mong muốn khai sinh này đã được trình bày trao đổi và được sự chấp thuận rất mau mắn của Đức Ông Giuse Mai Đức Vinh, giám đốc Giáo Xứ VN Paris.

Ngày 1-6-2005, ĐÔ Vinh sốt sắng trình gặp cha Vincent Scheffels để tiến hành thủ tục thành lập. Và ngày 25-6-2005, ĐÔ Vinh gửi thư cho Đức Cha Gérard Daucourt, giám mục giáo phận Nanterre. Nội dung thư với thỉnh nguyện, đại ý như sau : Từ khi Giáo Xứ VN chuyển về quận 17, (1998), một số giáo dân VN cao niên ở miền nam Paris vì đường xa, kẹt xe, ít đến sinh hoạt và tham dự Thánh Lễ được. Từ Lễ Phục Sinh 2005, ba giáo dân nhiệt thành, được phép của Cha Vincent Sheffels, đã tổ chức Thánh Lễ VN, với khoảng 80 người tham dự. Từ đó, hàng tháng Thánh Lễ VN được duy trì. Để cho những giáo dân VN này tham dự Thánh Lễ và lãnh nhận các bí tích được nhiều ơn ích, bằng tiếng Việt Nam. Qua là thư này, với tư cách là cha sở GXVN Paris, con xin Đức Cha cho phép GXVN Paris chính thức cử một Linh mục đến dâng lễ và lo mục vụ bí tích cho giáo dân Việt Nam, kể từ tháng 10-2005.

Ngày 20-8-2005, sau khi đã hội kiến với cha Vincent Sheffels, và Thầy Phó Tế Roland Scagliotti, đại diện giáo phận về mục ngoại kiều, Đức Cha Nanterre đã gửi thư cho ĐÔ. Vinh với sự chấp thuận. Lá thư viết có đoạn :

Trả lời ước nguyện cha đã ngỏ với tôi trong lá thơ đề ngày 25-6, tôi rất sẵn lòng cho phép cha mỗi tháng một lần gửi linh mục đến Antony để dâng Thánh lễ tại nhà nguyện Sainte Jeanne de Chantal của Giáo xứ Saint Jean Porte-Latine...

Linh mục mà cha sẽ phái đến là thuộc trách nhiệm của cha và thừa tác vụ của ngài tiến hành trong những điều kiện đã được ấn định chung với cha sở xứ đạo. Điều hay là trong những gì liên quan đến thời khóa biểu và có thể những vấn đề vật chất cần ghi rõ trên văn bản và được ký nhận bởi cha, bởi cha sở và linh mục, rồi gửi về cho giám mục một bản, về cho người đại diện giáo phận về mục vụ ngoại kiều một bản.

Tôi vui mừng vì những người Việt Nam vùng Nam Paris, già cả và đau yếu hay không hiểu hoặc hiểu ít tiếng pháp sẽ được hưởng nhờ các bí tích Thánh thể và Hòa giải gần tại nhà họ và trong ngôn ngữ của họ...

Ngày 13-9-2005, ĐÔ Vinh gặp Cha Vincent Sheffels thảo luận về lá thư nói trên. Và ngày 28-9-2005, một bản hợp đồng được ký giữa ĐÔ Vinh, hai ông Trần Văn Khoa và Nguyễn Tính Nghĩa với Cha Vincent Sheffels. Trong văn bản này xác nhận công đoàn VN Antony được dâng lễ mỗi tháng một lần, vào Chúa nhật thứ II, lúc 10g30, tại nhà nguyện Sainte Jeanne de Chantal.

Ngày 13-11-2005, khá đông giáo dân VN tại vùng Antony đến tham dự Lễ Các Thánh Tử Đạo VN tại nhà nguyện Sainte Jeanne de Chantal, với niềm vui tạ ơn Thiên Chúa và xin ơn phù trợ của Đức Mẹ La Vang và Các Thánh Tổ Tiên VN. Và ngày 11-12-2005, ĐÔ. Giuse Mai Đức Vinh là tuyên úy của cộng đoàn Antony đã chính thức dâng lễ khai sinh cộng đoàn. Ban Đại diện đầu tiên của cộng đoàn gồm : Ông Nguyễn Tính Nghĩa, Ông Phạm Văn Chương và Ông Trần Văn Khoan.

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2009

Tìm hiễu về cộng đoàn công giáo ... nqv

Bài hướng dẫn cúa Linh mục GS.Giê rô ni mô nguyễn Văn Nội về vấn đề xây dựng cộng đoàn căn bản như thế nào ? ...
TÌM HIỂU: THẾ NÀO LÀ MỘT “CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI CƠ BẢN?”

1. Định nghĩa Cộng đoàn Giáo hội cơ bản:

“Cộng đoàn Giáo hội cơ bản” (tiếng Pháp: Communauté de base; tiếng Tây Ban Nha: Communidades de base: viết tắt CB; tiếng Anh: Basic Ecclesial Commu-nity, viết tắt: BEC) là

* Một nhóm từ 8 đến 15 tín hữu,

* Sống cùng xóm với nhau, tức cùng địa bàn dân cư,

* Gặp gỡ nhau ít nhất một tháng một lần để cầu nguyện chung với nhau, để vui hưởng và chia sẻ đời sống và các kinh nghiệm đức tin, hầu nâng đỡ nhau và phát triển tình thân hữu trong Chúa,

* Thông qua Nhóm và Lời Chúa, họ đào sâu và nâng cao sự hiểu biết về Chúa Kitô, về Giáo hội và về ơn gọi và nhiệm vụ riêng của mình,

* Tùy theo kinh nghiệm sống đức tin của Nhóm và ơn đoàn sủng mà mỗi người lãnh nhận được, họ cam kết thực hiện một mình hay chung với Nhóm, một việc tông đồ nào đó, nhằm phục vụ Giáo hội và xã hội trong môi trường nghề nghiệp, trong khu xóm hay trong gia đình,

* Họ đại diện giáo xứ tại khu vực của mình và tạo nên một “giáo hội tại gia” hoặc một “Giáo hội nhỏ” tại địa phương ấy.

2. Những nét chính của một Cộng đoàn Giáo hội cơ bản:

(1) Cộng đoàn Giáo hội cơ bản thường thường do những người cùng sống chung một địa bàn với nhau tạo nên,

(2) Mọi giáo dân trong giáo xứ có thể gia nhập,

(3) Họ đại diện giáo xứ tại khu vực họ sống,

(4) Mỗi Cộng đoàn Giáo hội cơ bản có đại diện trong Hội đồng Mục vụ Giáo xứ.

3. Nhiều tên gọi khác nhau của Cộng đoàn Giáo hội cơ bản:

(1) Cộng đoàn Kitô cơ bản (Basic Christian Community, BCC),

(2) Cộng đoàn Giáo hội cơ bản (Basic Ecclesial Community, BEC),

(3) Cộng đoàn nhỏ giáo xứ, Tế bào giáo xứ (Small Parish Community: SPC, Parish Cells: PC),

(4) Cộng đoàn đức tin (Faith Community: FC),

(5) Cộng đoàn Kitô (Christian Community: CC)

(6) Cộng đoàn Kitô nhỏ (Small Christian Community: SCC),

(7) Cộng đoàn đức tin Kitô (Christian Faith Community: CFC),

(8) Cộng đoàn cơ bản (Basic Community: BC)

Từ các tên gọi khác nhau kể trên chúng ta thấy các phẩm chất sau đây được đề cao:

(1o) Tính hạ tầng cơ sở, tính căn bản của cộng đoàn (basic, de base),

(2o) Tính giáo hội của cộng đoàn (ecclesial),

(3o) Tính Kitô hay tính đức tin của cộng đoàn (christian, faith),

(4o) Tính khiêm tốn nhỏ bé của cộng đoàn (small).

4. Hoạt động chính của Cộng đoàn Giáo hội cơ bản:

(1) Hoạt động trọng tâm: của các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản là chia sẻ Lời Chúa, nhất là theo các Phương Pháp 7 Bước và Xem xét Làm,

(2) Hoạt động tông đồ (hay đối ngoại) của các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản rất đa dạng, ví dụ như:

* Cổ võ các Nhóm Chia sẻ Lời Chúa, các Nhóm Cầu nguyện,

* Chăm sóc bệnh nhân,

* Thăm viếng những người cùng giáo xứ,

* Giúp đỡ những người thiếu thốn,

* Tham dự lễ hội trong vùng,

* Dạy dỗ trẻ nhỏ,

* Tham gia các Nhóm Tín Dụng, giúp vốn, phát triển cộng đồng,

* Làm chứng cho Chúa Kitô trong môi trường nghề nghiệp, lao động,

* Đem Tin Mừng đến cho những người ngoài Giáo hội,

* Thăm viếng những người mới đến cư ngụ trong khu vực, khóm phường, giáo xứ,

* Chăm lo cho những người nghèo,

* Chăm lo cho những người tàn tật, gìa yếu, neo đơn,

* Chăm lo cho giới trẻ,

* Dạy giáo lý cho dự tòng,

* Thăm viếng những người bị giam, tù,

* Thăm viếng bệnh nhân trong bệnh viện,

* Chuẩn bị Lễ Rửa Tội cho trẻ em,

* Quyết định về việc rửa tội cho trẻ em và người trưởng thành,

* Bênh vực quyền lợi của người lao động,

* Chuẩn bị hôn nhân cho các bạn trẻ,

* Chuẩn bị Phụng vụ ngày Chúa nhật cho giáo xứ,

* Hòa giải khi có xung đột và tranh chấp,

* Quan tâm đến vấn đề bất công lớn trong xã hội,

* Quan tâm đến những nhu cầu nghiêm trọng mà người khác làm ngơ,

* Quan tâm đến sự phát triển nhân bản,

* Quan tâm đến sự phát triển kinh tế,

* Quan tâm đến môi trường sinh thái.

5. Tương quan của Cộng đoàn Giáo hội cơ bản với các Hội đoàn Tông đồ và các Nhóm cầu nguyện, hay học hỏi và chia sẻ Lời Chúa:

(1) Sự khác biệt giữa Hội đoàn Tông đồ (HĐTĐ) và Cộng đoàn Giáo hội cơ bản (CĐGHCB):

(a) HĐTĐ: tuyển chọn một hạng người nhất định, cho một công việc chuyên biệt, ví dụ Hội Legio Mariae chỉ thực hiện việc cầu nguyện và thăm viếng những gia đình sống xa hay chưa biết Chúa.

(a’) CĐGHCB: hết mọi người được đón nhận vào CĐGHCB và CĐGHCB làm bất cứ công việc gì (xem các việc vừa kể ở trên).

(b) HĐTĐ: hội viên không cần ở chung một khu vực.

(b’) CĐGHCB: thành viên là người cùng sống trong khu vực.

(c) HĐTĐ: không đại diện giáo xứ tại khu vực.

(c’) CĐGHCB: đại diện giáo xứ tại khu vực.

(d) HĐTĐ: không nhắm tới mọi người trong giáo xứ.

(d’) CĐGHCB: nhắm tới mọi giáo dân trong giáo xứ.

(2) Sự khác biệt giữa các Nhóm cầu nguyện hay học hỏi và chia sẻ Lời Chúa và Cộng đoàn Giáo hội cơ bản:

CĐGHCB: lớn hơn, lâu bền hơn, thuộc cơ cấu giáo xứ, bao phủ toàn bộ hay phần lớn giáo xứ, thực hiện dự án chung, gồm những người sống chung một khu vực, được nuôi dưỡng bởi lời cầu nguyện và Kinh Thánh.

(3) Sự hợp tác và bổ túc cho nhau giữa các Hội đoàn Tông đồ, các Nhóm cầu nguyện hay học hỏi và chia sẻ Lời Chúa và Cộng đoàn Giáo hội cơ bản:

Mỗi Hội đoàn Tông đồ, mỗi nhóm Cầu nguyện học hỏi và chia sẻ Lời Chúa và Cộng đoàn Giáo hội cơ bản có mục đích riêng. Nhưng tựu trung cũng là để giúp giáo dân sống đạo cách đầy đủ hơn. Vì thế, cần có sự hợp tác thân thiện để bổ túc cho nhau và giúp nhau thực hiện mục tiêu cách tốt đẹp nhất.

(4) Sự mở rộng của Cộng đoàn Giáo hội cơ bản cho những người chưa tin:

Tại nhiều nơi trên thế giới, có nhiều Cộng đoàn cơ bản được thiết lập giữa những người công giáo và người không công giáo, nhằm đáp ứng một số nhu cầu chung của dân cư trong cùng địa bàn. Loại Cộng đoàn này không được gọi là Cộng đoàn Giáo hội cơ bản mà được gọi là Cộng đoàn nhân sinh cơ bản (Basic Human Community: BHC). Trong cộng đoàn này động lực của người không công giáo có thể khác với động lực của người công giáo, nhưng thành viên đều nhằm một mục tiêu chung là tìm cách nâng cao đời sống con người về các mặt nhân bản, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa và tâm linh (18).
xem đầy đủ tại trang này

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2009

Ngày Mẹ ...chớ quên bạn ơi...

Cõng cò , cõng nắng , cõng mưa
Mẹ tôi cõng cả bốn mùa gió sương

Nhạc phẩm muôn thuở Lòng mẹ




Ơn nghĩa sinh thành



Xin riêng tặng Phạm Huỳnh và những người bạn mà toi quí mến ...