Thứ Tư, 11 tháng 7, 2012

WIFI miễn phí trên Salzburgs Mozartplatz

theo :Salzburgtime WIFI miễn phí trên Salzburgs Mozartplatz

Người dân địa phương cũng như du khách có thể tận dụng lợi thế của truy cập internet không dây miễn phí trên Mozartplatz Salzburg. Salzburg thành phố đã xây dựng vị trí mới không dây nóng để cho phép khách truy cập để lướt web trong khi miễn phí trong thành phố.

Đây là điểm nóng thứ mười một không dây trong thành phố. Ngoài như trên Mozartplatz, bổ sung các điểm nóng không dây đã được dựng lên tại các trung tâm thanh thiếu niên toàn thành phố năm nay. Các điểm nóng không dây hơn là để làm theo.

Salzburg đang đầu tư mạnh vào kỹ thuật số hỗ trợ cho du khách và cư dân của họ. Một ứng dụng điện thoại thông minh mới cũng đã được đưa ra cho phép giao tiếp với các nhà chức trách thành phố trực thuộc Trung ương trong khi trên đường đi.

Một trang Facebook cập nhật cũng sẽ giữ cho người dùng để cập nhật trên tất cả mọi thứ thông tin mới nhất từ tin tức cho thanh niên, người mới đến trong thư viện của thành phố.

Thị trưởng, Heinz Schaden cho biết: "Chúng tôi có một đội ngũ tác giả từ khắp văn phòng của chúng tôi để giữ cho trang Facebook được cập nhật , ngày đăng thông tin từ tất cả các lĩnh vực quan tâm....

Phần còn lại

Thứ Hai, 2 tháng 7, 2012

thủ đoạn con buôn ... Diệu Hân

Nqv. nhận được bài viết của bạn Diệu Hân " Thủ đoạn con buôn ". Bài viết rất nhạy cảm và chia thành từng phần như ở dưới chúng tôi tóm lược .Theo nhận xét của chúng tôi , bài viết của bạn đã vạch trần mánh lới của con buôn nhằm thưc hiện mục đích riêng tư cụng như câu khách , moi tiền của khách hàng " sống chết mặc bay , tiền thầy bỏ túi"

-Mục đích rửa tiền

-Lột nhãn cũ , dán nhãn mới cho ngày tháng

-Chất lượng hàng không như giới thiệu ( nói hàng xịn , bán hàng dỏm)

-dùng tôn giáo vào kinh doanh...

Thưa bạn Diệu Hân , chúng tôi chân thành cám ơn bạn đã gửu bài , tuy nhiên để tránh hiễu lầm trong những người đồng hương tại Salzburg , chúng tôi không thể đăng trên Blog , cảm phiền bạn có thể gửu cho các website khác . Chúng tôi xin hoàn trả lại bản thảo của bạn .

Thưa bạn Diệu Hân , theo nqv. các cửa hàng không phải là trường học , hoặc là chùa , nhà thờ nên bạn không thể đòi hỏi nơi đây sự đạo dức , lòng từ bi , bác ái . Mục đích của buôn bán là dùng thủ đọan kiếm lời càng nhiều càng tốt . Mong bạn hiểu . chúc bạn vui , khỏe. Phần còn lại

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2012

Du lịch Vietnam ...

nhật báo Salzburger Nachrichten xuất bản ngày 16.06. 2012 trên trang Reise & Freizeit đã lảm nqv. không khỏi kinh hoàng khi thấy tờ báo giới thiệu một vài hình ảnh về du lịch Vietnam . Một đất nước được sự điều hành cua đảng CSVN " đỉnh cao trí tuệ " Năm 1990 là năm được quảng cáo rầm rộ là năm du lịch " visit vietnam year" và cho tới nay khi giới thiệu về du lịch VN ngưới ta ( phóng viên - Jochen Müssig ) -còn đưa ra hình ảnh này" . Sài Gòn chào đón chúng tôi với 36 độ oi bức. Gió mùa trên đường. Giống như khi ông Minh vào năm 1990 với một cái xe Dodge cà rịch cà tàng sử dụng trong chiến tranh , từ khách sạn của mình đón khách tại sân bay . Các chứng từ đã được đọc: "Visa, chuyến bay, chuyển giao và tham quan." Sau vài mét đầu tiên, ông Minh chỉ mạnh mẽ đối với những thành tựu của chủ nghĩa xã hội, trong nhà trẻ và trường học, và nhanh chóng tăng lên là các chuyến bay ưa thích, xứng đáng với một đặc phái viên của Bộ Tuyên truyền. Và 22 năm trước là một câu chào rụt rè "hello" nghe nói ở vùng đất của Bác Hồ. Hôm nay âm thanh tại mỗi xó xỉnh : "Xin chào ông, Bananas ?" "Hello", một người hâm mộ, một xe taxi, massage dưới bất kỳ hình thức nào. . "Hello!", Các du khách nghe nó luôn luôn ở khắp mọi nơi. Hướng dẫn kiểm soát như ông Minh không còn ở đó, nhưng bây giờ đang bùng nổ của Việt Nam-pop trong các máy nghe đĩa CD trong một xe taxi.... Ngay cả sự quyến rũ của thị trấn nhỏ là đã qua rồi, buồn ngủ tỉnh nghèo cách nào để một đô thị , neon với tiếng ồn và khói. Armadas xe đạp trước đây đã được thay thế bằng xe máy và xe hơi. Nhưng chỉ là một ít , trên các đường phố bên nhỏ hơn, vẫn còn hơi thở Sài Gòn cũ, là thành phố Hồ Chí Minh được nhiều người biết đến ngày hôm nay. Một người phụ nữ già với cái cái nón cũ , có răng màu đen truyền thống... Năm 1990, "du lịch vienam". Thiếu hướng dẫn hiện hành , lưu hành tờ thông tin tay và mimeographed, được chào bán tại Bangkok, sau đó bắt đầu từ trung tâm điểm cho các tour du lịch đến Việt Nam, 20 - 30 shilling. Trước đây, nhóm chỉ được phép vào nước, sau đó được quản lý nghiêm ngặt của ông Minh chủ nghĩa xã hội thực sự, mặc dù Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất ở châu Á. Ngày nay, nền kinh tế con hổ gầm gừ. Chiến tranh là quá khứ. Quốc gia này có một tốc độ tăng trưởng lớn nhất trên thế giới, chỉ tính. Cuộc khủng hoảng tài chính châu Âu là xa, người dân ở đây đang làm tốt. Ngay cả các loại tiền tệ chủ chốt đồng đô la Mỹ sẽ được chấp nhận, và hầu như tất cả mọi người có đánh bắt trên các ghi chú theo dõi Euro. Ông Khách điều khiển xích lô, du khách đi qua thành phố Huế, ... đối với một vài đô la hoặc Euro thoải mái hơn so với một tour du lịch nửa ngày: Các rider dẻo dai với Hồ ria mép thưa thớt vẫn còn dù chỉ một lần có một doanh nghiệp và cung cấp các hành khách quickie. Trợ giúp trong nhân sâm ngâm rắn cuối cùng trở lại trong đau khổ, ông grins. Trong các tỉnh của Việt Nam, các đồng hồ khác nhau. Tranquility và hòa bình trong 21 Thế kỷ: trâu nước hơn là máy kéo, những cánh đồng lúa tươi sáng màu xanh lá cây và Bambushüttchen đơn giản. Và phong cảnh ngoạn mục của Vịnh Hạ Long, hoặc là những bãi biển đẹp trên biển Nam Trung Hoa, chỉ có số lượng khách truy cập đã thay đổi. Mặc dù du lịch Việt Nam vẫn thân thiện, linh hoạt, kinh doanh có đầu óc, nhưng hiếm khi gây khó chịu. Cho dù trên xe buýt hoặc tàu Thống Nhất Express, di chuyển một cách thường xuyên kể từ năm 1976, 1.800 km giữa Sài Gòn và Hà Nội. Đẹp Một "Xin chào" đến từ các người bán hàng rong tại ga hàng, cung cấp tất cả các khay chân gà giòn, đến từ các dây dẫn xe lửa, và thậm chí từ các thanh tra nghiêm ngặt, nhìn Lăng ở Hà Nội, nơi Bác Hồ trong ánh sáng màu hồng dựa trên bằng đá cẩm thạch khi ông không chỉ bay tới Moscow để phục hồi. Thủ đô là phần nào hạn chế hơn so với Sài Gòn đã nở rộ. Cô có những nét duyên dáng mát mẻ của chủ nghĩa cộng sản chủ yếu, nhưng vẫn còn chảy từ một Bürokratenmief ít nghiêm ngặt. Các cửa hàng bách hóa và các quầy hàng ở chợ có đầy đủ hàng hóa. Không có gì là không tồn tại. Trong khi năm 1990 có một khoảng trống hổng ở khắp mọi nơi và đôi khi thậm chí không cần thiết nhất đã được cung cấp. Không phải đề cập đến con rắn ngâm trong suốt trong nhân sâm. Cách đi: Việt Nam Airlines bay trực tiếp từ London đến Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, với Shuttle từ Vienna, khoảng 800 €. Visa yêu cầu. www.vietnamairlines.com Y tế: Không có chủng ngừa được yêu cầu, muỗi quan trọng và bảo vệ mặt trời, có sẵn trên trang web. Đừng uống nước máy. Thông tin: Tiền tệ Quốc Đồng (1 Euro tương đương với 26 000 đồng) có thể được giải quyết ngay tại chỗ bằng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ tại máy ATM. Đối với thông tin du lịch, xin vui lòng liên hệ với các tổ chức hoặc www.vietnambotschaft.org www.vietnamtourism.com bản tiếng đức :http://www.salzburg.com/nachrichten/lifestyle/urlaub-reisen/sn/artikel/im-neuen-land-von-onkel-ho-18223/

Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2012

Còn gì nữa không?

Thái Bá Tân (Danlambao) : Một lần, khi thuyết pháp ở làng nọ, bỗng có người chạy lại nhổ vào mặt Đức Phật rồi buông lời thóa mạ. Các đệ tử định can ngăn nhưng Ngài giơ tay ra hiệu đừng, rồi ôn tồn hỏi người kia:

“Còn gì nữa không?”

Câu nói ấy sau này được nhiều người nhắc lại khi chuyện liên quan đến sự nhẫn nhục. Phật hỏi “Còn gì nữa không?” vì Ngài nghĩ có thể người ấy còn điều ấm ức chưa nói hết. Thì để cho anh ta nói hết.

Sừng sờ trước thái độ nhẫn nhục ấy của Phật, người kia không nói gì thêm, hôm sau đến cúi rạp trước Ngài xin tha tội. Phật nói:

“Trong một ngày có nhiều nước chảy qua sông Hằng. Ta không còn là ta của ngày hôm qua. Cả ông cũng vậy. Hôm qua ông phỉ nhổ, hôm nay ông xin tha lỗi. Cả người nhổ và người bị nhổ đã đổi khác. Mọi vật cũng đổi khác, chỉ trong một ngày ngắn ngủi. Vậy hãy đứng dậy, mong ông từ nay chỉ bình tĩnh dùng lời bày tỏ lòng mình.” “Trong một ngày có nhiều nước chảy qua sông Hằng. Ta không còn là ta của ngày hôm qua. Cả ông cũng vậy. Hôm qua ông phỉ nhổ, hôm nay ông xin tha lỗi. Cả người nhổ và người bị nhổ đã đổi khác. Mọi vật cũng đổi khác, chỉ trong một ngày ngắn ngủi. Vậy hãy đứng dậy, mong ông từ nay chỉ bình tĩnh dùng lời bày tỏ lòng mình.”

Rồi Ngài lại hỏi:

“Còn gì nữa không?”

TỪ BI VÀ NHÂN CÁCH ... Đức Đạt Lai Lạt Ma

nqv : Từ Bi và Nhân Cách (Compassion and Individual ) là Một món quà tinh thần mà Đức Đạt Lai Lạt Lạt Ma gửu đến cho mọi người .

Món quà rất quí . Nqv. xin mời bạn . với bản dịch của Tỳ Kheo : Thích Nguyên Tạng .

TỪ BI VÀ NHÂN CÁCH

Mục đích của cuộc sống

Một câu hỏi lớn vẫn hiện hữu trong cuộc sống, cho dù chúng ta có suy nghĩ về nó một cách có ý thức hay không, đó là “Mục đích của cuộc sống là gì ?” Tôi đã từng tự vấn điều này và muốn chia sẻ những ý nghĩ của mình với hy vọng nó sẽ định hướng, sẽ hữu ích thiết thực cho các bạn. Tôi tin rằng mục đích của cuộc sống là đạt được hạnh phúc. Từ lúc mới sinh ra, mọi người ai cũng muốn được hạnh phúc và không muốn khổ đau. Ðiều đó không phải do điều kiện xã hội, giáo dục hay ý thức hệ ảnh hưởng, mà từ trong tiềm thức của con người, chúng ta chỉ đơn giản khao khát được sự thỏa mãn. TỪ BI VÀ NHÂN CÁCH Mục đích của cuộc sống Một câu hỏi lớn vẫn hiện hữu trong cuộc sống, cho dù chúng ta có suy nghĩ về nó một cách có ý thức hay không, đó là “Mục đích của cuộc sống là gì ?” Tôi đã từng tự vấn điều này và muốn chia sẻ những ý nghĩ của mình với hy vọng nó sẽ định hướng, sẽ hữu ích thiết thực cho các bạn. Tôi tin rằng mục đích của cuộc sống là đạt được hạnh phúc. Từ lúc mới sinh ra, mọi người ai cũng muốn được hạnh phúc và không muốn khổ đau. Ðiều đó không phải do điều kiện xã hội, giáo dục hay ý thức hệ ảnh hưởng, mà từ trong tiềm thức của con người, chúng ta chỉ đơn giản khao khát được sự thỏa mãn. Tôi không biết vũ trụ bao la với vô số dãy thiên hà, trăng, sao và các hành tinh kia có một ý nghĩa sâu xa nào không, nhưng có một điều chắc chắn rằng, ít nhất con người đang hiện hữu trên quả địa cầu phải đương đầu với bao thử thách trong việc tạo ra một cuộc sống hạnh phúc cho chính mình. Vì thế khám phá những gì có thể đem lại niềm hạnh phúc vô biên là điều rất quan trọng Làm thế nào để được hạnh phúc

Trước hết, chúng ta có thể chia hạnh phúc và khổ đau thành hai loại: tinh thần và thể chất. Trong hai phạm trù này, tinh thần (tâm) tạo sự ảnh hưởng nhiều nhất đối với mọi sinh hoạt trong đời sống của chúng ta. Trong khi điều kiện thể chất chỉ đóng vai trò thứ yếu trừ khi chúng ta bệnh nặng hoặc bị tước đi những nhu cầu cơ bản nhất. Một khi nhu cầu về thể chất được thỏa mãn, người ta thường lãng quên nhu cầu về tinh thần. Tuy nhiên tâm thức ta sẽ ghi nhận mọi sự kiện dù nhỏ nhoi đến mấy. Cũng vì thế mà chúng ta cần phải nỗ lực hết sức mình để có thể đem lại sự bình yên cho tâm hồn.

Từ chút ít kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy rằng sự bình yên tuyệt đỉnh của nội tâm xuất phát từ lòng thương yêu và sự nhiệt thành. Càng quan tâm đến hạnh phúc của người khác thì bản thân mình càng cảm thấy hạnh phúc nhiều hơn. Chính khi vun xới sự nhiệt tình và thân thiện với người khác đã giúp tâm hồn ta trở nên nhẹ nhàng, thanh thản. Thực hành tâm từ bi này, chúng ta sẽ thanh tẩy hết mọi nỗi bất an hay sợ hãi nào xảy đến trong đời sống và chúng ta sẽ đạt được một sức mạnh tâm linh để có thể đối mặt với bất kỳ mọi chướng ngại. Ðó là yếu tố cơ bản để thành công trong cuộc sống. Còn sống trong cõi đời này thì chúng ta hẳn còn gặp những trần ai. Mỗi lần như thế nếu ta chán nản và bi quan, ta sẽ mất đi tiềm lực để đương đầu với những khó khăn. Ngược lại, ta nên biết rằng không chỉ riêng ta mà mọi người ai cũng đều phải chịu khổ. Nhận ra viễn cảnh thực tế ấy sẽ giúp ta có thêm quyết tâm để vượt qua nghịch cảnh. Quả thật vậy, với thái độ này, mỗi chướng duyên mới xảy ra là một cơ hội quý giá để giúp ta phát triển tâm linh. Từ đó, chúng ta cố gắng dần dần phát triển lòng từ nhiều hơn. Chúng ta không những cảm thông một cách chân thành với những nỗi đau của người khác mà còn giúp họ loại bỏ những khổ đau ấy. Kết quả, chúng ta sẽ đạt được sự nhẹ nhàng, thanh thản và tăng thêm sức mạnh của nội tâm.

Nhu cầu yêu thương của chúng ta

Nói một cách rốt ráo, lý do nào lòng từ bi lại đem đến hạnh phúc và an lạc cho con người, đơn giản chỉ vì lòng từ bi của chúng ta vượt thắng hết tất cả mọi thứ khác. Trên tinh thần đó, nhu cầu yêu thương luôn hiện diện trong nền tảng chính yếu của sự hiện hữu của loài người. Nhu cầu ấy kết tinh từ sự tương hỗ sâu sắc giữa người với người. Dù tài giỏi và đa năng đến đâu, một cá nhân sống tách biệt, độc lập thì sẽ không tồn tại. Người ta có thể cảm thấy sung mãn và bất cần đến ai trong thời hoàng kim nhất của cuộc đời, nhưng khi ngã bệnh, dù họ là ai, già hay trẻ, cũng đều cần đến sự giúp đỡ săn sóc của người khác. Cố nhiên, sự lệ thuộc lẫn nhau là quy luật cơ bản của tự nhiên. Không chỉ sinh vật cao cấp như con người mà cả những loài côn trùng thấp kém nhất cũng đang mang tính xã hội. Dù không có giáo dục, luật pháp hay tôn giáo, chúng sanh vẫn tồn tại trong sự hỗ tương dựa vào nhận thức bẩm sinh về cộng đồng của chúng. Sự vật hiện tượng ở mức độ tế vi nhất cũng bị sự phụ thuộc lẫn nhau này chi phối. Môi trường sống xung quanh ta như đại dương, mây, rừng núi và cỏ hoa, tất cả đều phát triển lệ thuộc vào nhau trong một dạng năng lượng vi tế hợp nhất. Nếu không có sự tương tác thích hợp này, chúng sẽ tự tan rã và tiêu diệt. Cũng vì loài người tồn tại lệ thuộc vào sự giúp đỡ của nhau, cho nên nhu cầu lòng từ bi trở thành một nền tảng bất khả phân ly của chúng ta. Vì vậy, chúng ta cần phải có trách nhiệm quan tâm thật sự đến lòng từ và sự an lành của người khác. Chúng ta cần phải xem xét về một nghi vấn: Bản chất con người thật sự là gì? Chúng ta không giống như những vật thể được tạo ra bằng máy. Nếu chúng ta đơn thuần là những thực thể máy móc, khi đó chính những máy móc có thể tự làm vơi đi những nỗi khổ đau và đáp ứng những nhu cầu của chúng ta. Tuy nhiên, bởi lẽ chúng ta không phải là những tạo vật đơn lẻ, nên thật nhầm lẫn để đi tìm kiếm nhu cầu hạnh phúc ở bên ngoài. Thay vào đó, chúng ta phải quay về nguồn cội và bản tâm của mình để khám phá những nhu cầu thực sự mà chúng ta cần đến. Gác lại những vấn đề phức tạp về sự tạo thành và tiến hóa của vũ trụ, ít nhất chúng ta có thể đồng ý với nhau rằng mỗi chúng ta đều là sản phẩm các bậc cha mẹ. Nói chung, sự hiện diện chúng ta không phải xuất phát từ ước vọng nhục thể mà từ sự ao ước và quyết định tác tạo một đứa trẻ của các bậc sinh thành. Những quyết định đó được dựa trên tình thương và bổn phận trách nhiệm. Tình thương bao la ấy của cha mẹ đã thể hiện qua việc nuôi nấng đứa con từ lúc chào đời cho đến khi nó biết tự lo cho bản thân mình. Vì thế, ngay từ lúc thọ thai, tình thương của cha mẹ đã gắn chặt đến tiến trình tạo ra đứa con. Hơn thế nữa, chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào sự chăm sóc của cha mẹ từ những giai đoạn đầu sự phát triển. Theo một số nhà khoa học, trạng thái tinh thần của phụ nữ có mang, vui hay buồn đều ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Bày tỏ tình thương là một điều vô cùng quan trọng trong thời gian sanh con, vì việc đầu tiên của chúng ta là bú sữa mẹ, tự nhiên chúng ta cảm thấy gần gũi với mẹ và người mẹ cũng có cảm nhận giống như ta qua việc người đặt ta nằm bú chỗ thích hợp. Nếu người mẹ giận dữ và buồn phiền, thì dòng sữa thiêng liêng ấy sẽ không còn tươi mát và ngọt ngào nữa. Kế đến là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí não của đứa trẻ, từ lúc mới sanh ra cho đến ít nhất là ba hoặc bốn tuổi. Trong một thời gian dài như vậy, cử chỉ yêu thương, chăm sóc và vuốt ve âu yếm là yếu tố quan trọng cho sự phát triển tốt của đứa trẻ. Nếu đứa trẻ không được chăm sóc, mơn trớn, ôm ấp và yêu thương, sự phát triển của nó sẽ bị tổn thương và não bộ của nó sẽ không lớn mạnh hoàn hảo được.

Một đứa trẻ không thể lớn được nếu thiếu sự chăm sóc của người khác. Cho nên tình thương là chất dinh dưỡng quan trọng nhất cho đứa trẻ. Niềm hạnh phúc thời thơ ấu, giảm thiểu tối đa sự khiếp sợ và sự phát triển mạnh mẽ về lòng tự tin của đứa trẻ, đều tùy thuộc trực tiếp vào tình yêu thương.

Ngày nay có nhiều trẻ em lớn lên trong những gia đình không được hạnh phúc. Nếu đứa trẻ không tiếp nhận được tình thương thực sự và nuôi dưỡng phù hợp, khi trưởng thành chúng khó mà thương kính cha mẹ của chúng và cố nhiên, chúng sẽ khó mà thương yêu bất cứ người nào khác. Ðó là một sự thật đáng buồn. Khi đứa trẻ đến tuổi đi học, nhu cầu của chúng là sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô giáo. Bởi vì, thầy cô giáo không chỉ dạy học ở trường, mà còn có trách nhiệm chuẩn bị hành trang cho đứa trẻ bước vào đời. Nhờ vậy, mà người học trò mới cảm thấy tin tưởng và kính trọng . Những gì được thầy cô giáo dạy dỗ sẽ để lại trong đứa trẻ những ấn tượng khó phai nhòa. Ngược lại, những bài giảng của thầy cô giáo không cho thấy sự quan tâm đúng mức đến tương lai hạnh phúc của học trò thì những lời dạy của họ chỉ được xem là tạm thời và sẽ bị lãng quên theo năm tháng.

Tương tự, một người bệnh và đang được điều trị trong bệnh viện bởi một bác sĩ có tấm lòng nhân hậu. Vị bác sĩ này luôn bày tỏ tình cảm, săn sóc tận tụy và mong muốn cho bệnh nhân mau chóng bình phục, thì người bệnh ấy sẽ cảm thấy được an ủi và dễ chịu. Ðó chính là phương pháp chữa bệnh hiệu quả nhất mà không cần đến khả năng hay kỹ thuật cao của người bác sĩ. Ngược lại, nếu một bác sĩ thiếu tình cảm, tỏ ra không thân thiện, nóng tánh và thiếu sự quan tâm, bệnh nhân ấy sẽ cảm thấy khó chịu và sầu lo, mặc dù đó là một bác sĩ giỏi, bệnh đã được chẩn đoán và thuốc đã được kê toa hợp lý. Chắc chắn cảm giác yên bình và sự hồi phục hoàn toàn của bệnh nhân này phải khác hẳn so với người kia.

Ngay cả trong đời sống hằng ngày, chúng ta tham gia vào các cuộc nói chuyện, nếu người nói có thái độ hòa nhã, chân thành, tình cảm, chúng ta sẽ thích nghe và đối đáp một cách vui vẻ. Câu chuyện sẽ trở nên sôi nổi, cho dù đề tài nói chuyện không mấy gì hấp dẫn. Trái lại, nếu người nói có thái độ lạnh lùng và thô lỗ thì tức khắc ta cảm thấy khó chịu và muốn nhanh chóng chấm dứt câu chuyện. Từ việc nhỏ như thế cho đến việc quan trọng khác, tình thương và sự tôn trọng người khác rất cần thiết cho đời sống hạnh phúc của con người. Gần đây, tôi có gặp một nhóm khoa học gia tại Hoa Kỳ. Họ cho biết rằng tỷ số người bệnh tâm thần tại xứ sở này đang gia tăng rất cao — khoảng mười hai phần trăm dân số. Cuộc thảo luận ấy đã cho thấy rõ rằng nguyên nhân chính của bệnh tâm thần không phải do thiếu thốn điều kiện vật chất mà chính là do mất mát tình thương yêu từ người khác. Vì thế, như tôi đã nói từ lúc đầu, dù chúng ta có ý thức về nó hay không, từ khi mới sinh ra, nhu cầu tình thương đã có sẵn trong huyết quản của mỗi chúng ta. Ngay cả con thú hay kẻ thù đi chăng nữa đều bị tình yêu thương chi phối và cuốn hút một cách tự nhiên. Tôi tin rằng, không có ai sinh ra mà không cần đến tình thương. Và điều đó đã minh chứng rằng, con người không thể giới hạn trong khuôn khổ thuần vật chất, dù các trường phái triết học, tư tưởng hiện đại đã cố gắng chứng minh tính đơn thuần vật chất của con người. Không có một đối tượng vật chất nào, dù đẹp đẽ bao nhiêu và có giá trị đến mức nào cũng giúp ta cảm nhận được niềm yêu thương. Bởi vì cội nguồn yêu thương sâu xa và bản chất chân thật của chúng ta đã nằm sẵn trong tự tánh chủ thể của tâm.

Phát triển lòng Từ bi

Một vài người bạn của tôi đã nói rằng tình thương và từ bi là tốt đẹp và tuyệt vời, nhưng chúng không thật sự liên quan đến đời sống của chúng ta. Họ bảo rằng thế giới chúng ta không phải là một nơi mà lòng tin về sức mạnh của từ bi có ảnh hưởng hay nó có một sức mạnh thật sự. Họ tuyên bố rằng bản chất của giận dữ và thù hằn có quá nhiều trong tâm của con người đến nỗi thiện tâm của họ bị nó khống chế. Tôi không đồng ý về điều đó.

Chúng ta biết rằng loài người đã hiện hữu khoảng một trăm ngàn năm nay. Tôi tin rằng, trong suốt thời gian ấy, nếu lòng người bị hận thù chế ngự thì lẽ ra dân số thế giới không gia tăng. Tuy nhiên hiện nay, dù có chiến tranh, chúng ta vẫn thấy dân số thế giới tăng vọt hơn bao giờ hết. Ðiều này đã cho thấy rõ ràng lòng từ bi luôn trội hơn những thứ khác trên thế giới. Và đó là lý do tại sao các biến cố đau buồn lại là “tin tức thời sự”; bởi vì các sinh hoạt mang tính từ bi là một phần trong đời sống hằng ngày, đến nỗi chúng đã trở thành tự nhiên và bình thường mà chúng ta hoàn toàn lãng quên chúng.

Trên đây tôi chính yếu chỉ nói đến lợi ích tinh thần của lòng từ, tuy nhiên, nó cũng góp phần đáng kể cho thể chất của chúng ta. Theo kinh nghiệm của bản thân tôi, sự ổn định tinh thần và sự khỏe mạnh về thể chất liên hệ mật thiết với nhau. Không cần phải thắc mắc, chính sự giận dữ và sầu muộn sẽ làm cho ta thêm bệnh hoạn. Ngược lại, nếu tâm ta thanh thản và an lạc, thân thể của ta không dễ rơi vào trạng thái bệnh đau. Tuy nhiên, cũng có một sự thật rằng tất cả chúng ta đều có bản tánh bẩm sinh tự cho mình là trung tâm, điều đó đã ngăn cản lòng từ của ta đối với người khác. Do vậy, nếu ta muốn có hạnh phúc thực sự thì phải đạt được tâm tịch tĩnh và tâm tịch tĩnh này chỉ phát nguồn từ thái độ của yêu thương mà thôi. Nhưng làm thế nào để phát triển được lòng từ ? Rõ ràng chỉ nghĩ về sự tốt đẹp của lòng từ thôi chưa đủ, mà chính chúng ta cần phải nỗ lực quan tâm hơn nữa để phát triển nó, chúng ta phải lợi dụng những sinh hoạt trong đời sống hằng ngày để chuyển hóa nó vào trong suy nghĩ và hành động của chúng ta. Trước hết, chúng ta cần phải tìm hiểu ý nghĩa của lòng từ bi là gì? Có nhiều hình thức về lòng từ bi xen lẫn với ham muốn và luyến ái. Chẳng hạn như, tình thương yêu cha mẹ dành cho con cái thường liên kết mạnh mẽ với nhu cầu tình cảm riêng tư. Vì thế, nó không phải là lòng từ bi hoàn toàn. Lại nữa, trong hôn nhân, tình yêu giữa vợ chồng, đặc biệt là thuở ban đầu, khi mới yêu nhau mỗi người chưa rõ tánh tình sâu kín của nhau, nên càng lệ thuộc vào luyến ái hơn là tình yêu chân thật. Lòng ham muốn của ta quá mạnh đến nỗi chúng ta xem những ai mà ta yêu thương là đều người tốt cả, trong khi những người ấy có thể có nhiều tánh xấu. Thêm nữa, chúng ta thường có khuynh hướng nghĩ tốt về người mình thương yêu một cách thái quá. Do vậy, một khi thái độ của người mình thương thay đổi thì ta cảm thấy thất vọng, khổ đau và cũng thay đổi cách nhìn của mình. Ðiều này đã chứng minh rằng tình yêu ấy do nhu cầu cá nhân thúc giục nhiều hơn là bằng thái độ quan tâm thực sự đến người khác.

Lòng từ bi thực sự không chỉ là sự phản hồi tình cảm mà còn là sự tận tụy mạnh mẽ dựa trên lý trí. Vì thế, thái độ từ bi chân thành đối với người khác không hề bị đổi thay thậm chí người kia cư xử trái ngược.

Cố nhiên, phát triển lòng từ bi này không phải là việc dễ dàng. Ðể bắt đầu, chúng ta hãy xem xét mấy điều sau đây: Quán thấy rằng người dễ thương và thân thiện hay người khó ưa và hận thù, nói cho cùng họ cũng là con người giống như mình, họ cũng muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Hơn thế nữa, họ còn có khả năng vượt qua khổ đau và đạt được hạnh phúc như chúng ta. Ðến đây bạn nhận ra rằng tất cả chúng sanh đều bình đẳng về ước nguyện hạnh phúc và có quyền để đạt được nó, tự nhiên bạn nhận ra sự đồng cảm và gần gũi với mọi người. Bằng cách tập làm quen tâm vị tha của bạn đối với tất cả mọi người, bạn sẽ phát triển tinh thần trách nhiệm đối với người khác: với ước nguyện giúp họ một cách tích cực để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Ðiều này được áp dụng bình đẳng cho mọi người, không có ý chọn lựa bất kỳ đối tượng nào, miễn sao họ cũng là những người từng cảm nhận được hạnh phúc và khổ đau như chúng ta. Không có một nền tảng lý luận nào để phân biệt với họ, hoặc thay đổi sự quan tâm của mình đối với họ khi họ có thái độ tiêu cực. Tôi xin nhấn mạnh rằng việc phát triển lòng từ hoàn toàn nằm trong khả năng của chúng ta, miễn sao ta có thời gian và chịu kiên nhẫn. Tất nhiên, thái độ tự cho mình là trung tâm điểm, sự tham ái phân biệt về cảm giác độc tôn, sự hiện hữu “tự ngã”, đã ngăn cản mạnh mẽ sự phát triển của lòng từ bi. Trong thực tế, lòng từ bi chân chánh chỉ có thể hiện bày khi các loại ái chấp trên được loại bỏ. Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta không thể bắt đầu và phát khởi lòng từ ngay bây giờ được.

Làm sao để phát khởi lòng từ bi

Chúng ta nên bắt đầu bằng cách cởi bỏ những chướng ngại lớn nhất của lòng từ là sân hận và oán ghét. Như chúng ta đã biết, sân hận và oán thù là những cảm xúc vô cùng mãnh liệt và chúng ta lấn át toàn tâm của ta. Tuy nhiên, chúng ta có thể điều phục chúng. Nếu không, những cảm xúc tiêu cực này sẽ gây phiền nhiễu cho ta. Nếu không nỗ lực loại bỏ chúng, chúng sẽ cản trở sự tìm kiếm hạnh phúc của chúng ta. Khởi đầu, thật có lợi cho ta khi kiểm tra lại cơn giận dù có giá trị hay không. Trong một lúc nào đó, chúng ta cảm thấy nản lòng bởi một tình cảnh khó xử thì dường như sân hận rất có ích, mang lại cho ta nhiều năng lực, sự tự tin và tính quyết đoán hơn. Ở đây, chúng ta nên khảo sát trạng thái tinh thần của mình một cách cẩn thận. Rằng chính sân hận có cho ta thêm năng lực, nhưng nếu ta kiểm tra lại bản chất của năng lực này, chúng ta sẽ khám phá ra đó là năng lực mù quáng. Chúng ta không thể chắc chắn rằng hậu quả của nó tốt hay xấu. Bởi vì chính cơn giận dữ đã che khuất đi phần quan trọng nhất trong não bộ của ta, đó là phần lý trí. Vì vậy, năng lực của sân hận không đáng tin cậy trong mọi trường hợp. Nó có thể gây ra tổn thương lớn và thái độ cư xử sai quấy. Hơn nữa, nếu cơn giận gia tăng đến cực điểm, con người ta sẽ trở nên điên loạn, hành động theo hướng làm tổn hại cho mình cũng như cho người khác.

Tuy nhiên, chúng ta có thể phát triển một dạng năng lực mạnh mẽ tương đương, nhưng đó là dạng năng lực chế ngự để đối phó những tình huống khó khăn.

Năng lực chế ngự này không chỉ xuất phát từ thái độ từ bi mà còn phát khởi từ lý trí và lòng kiên nhẫn. Ðây là loại thuốc giải độc mạnh nhất để đối trị sân hận. Rủi thay, nhiều người đã phán quyết một cách sai lầm rằng những phẩm chất này cũng giống như những dấu hiệu của sự yếu đuối. Tôi tin rằng điều trái ngược này là sự thật: rằng chúng là những dấu hiệu thật sự của sức mạnh nội tại. Bởi vì tính chất của lòng từ vốn nhu hòa, yên bình, cảm thông nhưng rất mạnh mẽ. Chính những người thiếu lòng nhẫn nại là những người mất niềm tin và bất an. Thế thì, theo tôi, dễ nổi giận là một dấu hiệu rõ ràng của sự yếu đuối. Vì thế, khi xảy ra vấn đề gì, chúng ta hãy cố gắng từ tốn, giữ thái độ chân thành và nghĩ rằng kết quả đó là công bằng. Cố nhiên, nhiều người đã có thể lợi dụng bạn và nếu thái độ thờ ơ của bạn vô tình khuyến khích những áp lực bất công, thì bạn phải có lập trường hay quan điểm cứng rắn. Tuy nhiên, điều này nên được hành xử với từ tâm và nếu cần thiết, bạn nên bày tỏ quan điểm của bạn cũng như dùng biện pháp đối phó mạnh mẽ, nhưng không nên giận dữ và tỏ ra có ác ý.

Bạn nên biết rằng, dù kẻ thù dường như muốn hại bạn, nhưng cuối cùng những hành động tiêu cực ấy chỉ làm hại cho chính họ mà thôi. Ðể kiểm soát tính ích kỷ, và trả thù của mình, bạn nên nhớ lại sự khao khát muốn thực hành lòng từ và tinh thần trách nhiệm của bạn nhằm giúp người khác tránh khổ đau do hành nghiệp của họ đã tạo ra.

Như vậy, phương pháp bạn đang sử dụng đã được chọn lọc một cách cẩn thận, sẽ có hiệu quả hơn, chính xác hơn và mạnh mẽ hơn. Sự trả thù dựa trên năng lực giận dữ mù quáng hiếm khi đánh trúng vào mục tiêu xóa bỏ thù hận.

Bạn và thù

Một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh việc suy nghĩ về lòng từ, lý trí và sự kiên nhẫn là điều rất tốt nhưng chưa đủ để phát triển chúng. Chúng ta phải chờ đợi những khó khăn nảy sinh rồi nỗ lực thực hành chúng. Ai là người tạo ra cơ hội đó cho ta? Tất nhiên, không phải là bạn bè của ta mà đó chính là kẻ thù của ta. Họ là những người gây ra nhiều trở ngại nhất cho ta. Vì vậy, nếu chúng ta muốn học hỏi, chúng ta nên xem kẻ thù kia là người thầy tốt nhất của mình. Ðối với người muốn nuôi dưỡng lòng từ bi, thực hành lòng khoan dung là cần thiết và kẻ thù là người không thể thiếu được. Vì vậy, chúng ta nên biết ơn kẻ thù của chúng ta, vì chính họ là người có thể giúp đỡ phát triển tâm tịch tĩnh an lạc của mình. Cũng có những trường hợp trong đời sống cá nhân hay cộng đồng, do hoàn cảnh đổi thay kẻ thù đã trở thành bè bạn.

Vì sân hận và oán thù là những cảm xúc luôn luôn có hại, và nếu ta không luyện tập tâm mình và cố gắng làm giảm bớt những năng lực xấu ấy thì chúng sẽ tiếp tục gây trở ngại và làm rối loạn các nỗ lực phát triển tâm an lạc của ta. Do đó, tâm sân hận mới là kẻ thù đích thực của ta. Ðối với những năng lực này, chúng ta cần phải đương đầu và đánh bại chúng vì chúng không phải là kẻ thù tạm thời trong đời sống của chúng ta.

Tất nhiên, theo bản chất tự nhiên, tất cả chúng ta đều thích có bạn. Tôi thường đùa rằng nếu bạn thật sự rất ích kỷ thì chính bạn phải rất vị tha. Bạn nên chăm sóc người khác, quan tâm đến sự bình an của họ, giúp đỡ họ, phục vụ họ, kết bạn nhiều hơn, cười nhiều hơn. Kết quả ra sao? Ðến khi bạn cần đến sự giúp đỡ, bạn sẽ có nhiều người khác đến với bạn. Ngược lại, nếu bạn quên đi hạnh phúc của người khác, theo thời gian đó, chính bạn sẽ là người mất mát. Và có thể nào tình bạn lại phát sinh từ những cuộc cãi vã và giận hờn, ganh tyï và tranh đua căng thẳng không? Tôi không nghĩ như thế. Chỉ với lòng yêu thương mới có thể đem lại cho chúng ta những người bạn thân thiện và chân thật nhất. Trong xã hội vật chất ngày nay, nếu bạn có tiền bạc và quyền lực, dường như bạn có nhiều bạn bè. Nhưng họ không phải là bạn bè thật sự của bạn mà là bè bạn của tiền bạc và quyền lực của bạn mà thôi. Một khi tiền bạc và sự ảnh hưởng của bạn không còn nữa, bạn sẽ thấy rất khó khăn để tìm ra dấu vết của những người bạn thấp kém này. Cái trở ngại ở đây chính là mọi việc trên đời này đều diễn ra tốt đẹp, nên ta quá tự tin rằng mình có khả năng giải quyết được mọi việc và cảm thấy không cần bạn bè, nhưng khi sức khỏe và địa vị suy tàn, chúng ta chợt tỉnh, là ta đã sai lầm đến mức nào. Chính lúc ấy, ta mới biết ai là người giúp đỡ ta thực sự và ai là người vô dụng hoàn toàn. Vì thế để chuẩn bị cho giây phút đó, để có những người bạn chân thành, những người thật sự giúp đỡ ta khi ta cần, chúng ta phải trao dồi lòng vị tha nhân ái đối với tất cả mọi người ngay từ hôm nay. Mặc dù, có thể sẽ có người cười tôi khi tôi nói rằng chính bản thân tôi rất thích có thật nhiều bạn. Tôi rất thích những nụ cười thân thương. Vì điều này mà tôi phải học cách có được nhiều bạn và làm thế nào để có được nhiều nụ cười hơn và đặc biệt là những nụ cười chân thành thật sự. Thật ra có nhiều kiểu cười, như cười mỉa mai, cười giả tạo hay cười xã giao. Có nhiều nụ cười không đem lại cảm giác hài lòng và đôi khi chúng còn tạo ra sự nghi ngờ và sợ hãi nữa. Những nụ cười ấy có phải là nụ cười thật sự không? Nụ cười thật sự sẽ mang lại chúng ta cảm giác tươi mát và dễ chịu. Tôi tin tưởng đó là nụ cười duy nhất của loài người. Nếu đó là nụ cười của chúng ra muốn, chúng ta hãy tạo ra những lý do để cho chúng xuất hiện.

Lòng từ bi và cuộc sống

Ðể kết luận, tôi xin mở rộng vài ý ngoài đề tài của bài viết này để trình bày quan điểm rộng hơn: hạnh phúc của cá nhân có thể góp phần vào sự cải thiện một cách có hiệu quả và sâu rộng của toàn cộng đồng nhân loại Bởi vì tất cả chúng ta đều chia xẻ một nhu cầu tình thương yêu như nhau, nên có thể chúng ta cảm nhận rằng mọi người mà chúng ta gặp, trong bất cứ hoàn cảnh nào đều là anh chị em của ta. Dù cho có sự khác biệt giữa những khuôn mặt mới, quần áo hay cử chỉ, vẫn không có sự khác biệt nào cả giữa chúng ta với người ấy. Thật là khờ dại khi dựa vào những khác biệt ở bề ngoài, vì bản chất cơ bản của chúng ta đều giống nhau. Cuối cùng, nhân loại là một và hành tinh nhỏ bé này là ngôi nhà duy nhất của chúng ta. Nếu chúng ta muốn bảo vệ ngôi nhà này thì mọi người chúng ta cần phải biết ý nghĩa sống động của tình thương yêu bao la, lòng từ bi. Chỉ với thái độ này, chúng ta mới có thể chuyển hóa được những động cơ ích kỷ làm cho con người dối gạt và lạm dụng lẫn nhau. Nếu bạn có một tấm lòng rộng mở và chân thành, tự nhiên bạn cảm thấy tự tin và có giá trị, và cũng không làm cho người khác sợ hãi. Tôi tin rằng, ở mỗi tầng lớp trong xã hội, từ gia đình, chủng tộc, quốc gia và thế giới, chìa khóa cho một thế giới hạnh phúc hơn và thành công hơn là thực hiện phát triển lòng từ bi. Chúng ta không cần theo một tôn giáo, cũng không cần chạy theo một ý thức hệ nào. Ðiều cần thiết là tất cả chúng ta phải tự phát triển nhân cách tốt đẹp của bản thân mình. Tôi đã cố gắng tiếp đón bất cứ người nào mà tôi có dịp gặp như là một người bạn cũ. Ðiều này mang lại cho tôi một cảm giác hạnh phúc thật sự. Ðó là một trong những phương pháp để thực hành lòng từ . ______ Dịch từ quyển “Compassion and the Individual”, Tenzin Gyatso the Fourteen Dalai Lama, Wisdom Publication, Boston, USA, 1994. Ðây là lần tái bản thứ ba với 15.000 quyển; lần thứ hai năm 1992 với 46.000 quyển và lần thứ nhất năm 1991 với 10.000 quyển để phát không cho người đọc.

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

Đức Đạt Lai Lạt Ma tới Salzburg

Đức Dalai Lama tại Salzburg ngày 21.05.2012 tại Trung Tâm Triển Lãm Salzburg.

Trong chuyến viếng thăm Áo Quốc lần thứ 14 , Ngài sẽ có buổi thuyết trình và thảo luận với đề tài " Hòa bình thế giới và trách nhiệm toàn cầu " vào buổi sáng .

Buổi chiều có cuộc gặp gỡ và đối thoại với các đại diện tôn giáo bạn như Cơ Đốc , Tin Lành , Do Thái , Hồi giáo ... với chủ đề " hài hòa trong đa đạng ".

Quý vị nào có nhu cầu và muốn tham dự có thể coi thêm chi tiết trên mạng : http://www.dalailama.at/programm/salzburg/

theo facebook: vanvien Ho

Đức Dạtt Lai Lạt Ma Sẽ đén thành phố Salzburg và có buổi thuyết trình về đề tài :"Weltfrieden und universelle Verantwortung" ( hòa bình thế giới và trách nhiệm chung )

Tóm tắt tiểu sử Đứac Đạt Lai Lạt Ma

Thích Nguyên Tạng dịch Lời người dịch:

Đức Đạt Lai Lạt Ma 14, tên thật là Tenzin Gyatso, là một nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của nhân dân Tây Tạng. Ngài chào đời tại làng Taktser, vùng Đông Bắc Tây Tạng vào ngày 6 tháng 7 năm 1935 (Ất Hợi) trong một gia đình nông dân.

Ngài được thừa nhận là Dalai Lama vào năm 2 tuổi theo truyền thống Tây Tạng như là hóa thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13. Ngài được tấn phong tước vị Dalai Lama vào ngày 22 tháng 2 năm 1940 tại Lhasa, thủ đô của Tây Tạng, chính thức là người lãnh đạo chính trị và tôn giáo cho 6 triệu người Tây Tạng.

Tuy nhiên ngài đã thừa kế tước vị Dalai Lama trong một giai đoạn bấp bênh nhất của toàn bộ lịch sử với danh hiệu cao quý này, vì Trung Cộng đã xâm chiếm Tây Tạng và ngài đã đến tỵ nạn ở tiểu bang Dharamsala, miền Bắc nước Ấn Ðộ từ năm 1959.

Từ đó, ngài đã ủng hộ triệt để cho chính sách bất bạo động, ngay cả những lúc đối đầu với những cuộc tấn công khủng khiếp nhất. Chính vì thế mà năm 1989, ngài được trao giải thưởng Nobel về hòa bình. Hiện nay, cũng trong thân phận người tỵ nạn, ngài thường xuyên đi đến nhiều miền đất trên thế giới để kêu gọi hòa bình, để rồi khi có thể, ngài nói lên tiếng nói tự do giải phóng cho dân tộc Tây Tạng. Từ ngày 6 đến ngày 16 tháng 6 năm 2007 , Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viếng thăm Úc Châu, đây là chuyến thăm Úc lần thứ năm của Ngài để giảng dạy Phật Pháp.

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

Mùa hè đang tới Salzburg .

Khi gia đình chúng ta vào mùa hè có một số người thân quen đến thăm , chúng ta người cư trú tại thành phố Salzburg đóng vai người hướng dẫn du Lịch :

Điểm dến:

die Schloss Mirabell Gardens :Mirabellplatz 4, 5020 Salzburg

Mozarts Geburtshaus

Salzburger Festspiele, Schloss Hellbrunn, Getreidegasse, Alten Markt, Zoo Salzburg, Museum of Natural History , St. Sebastian Friedhof, Kirche St. Peter Friedhof, und Katakomben Der Untersberg,
Dom Salzburg

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

Lễ Phật Đản - Vesakhfest 28.04.2012 ... nqv.

Cộng đồng Phật tử tai Wien , dưới sự hướng dẫn của thầy Thích Viên Duy đã tổ chức Lễ Phật Đản -Phật lịch 2556 . Vesakhfest 28.04.2012 tại Pfarre Gatterhölzl . Chúng tôi ghi nhận một số hình ảnh và chia sẻ cùng cộng đồng người việt tại Áo Quốc .
Thầy Thích Viên Duy
nguồn :Ngany mời bạn vào :http://ngany.multiply.com/

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

30.04.1975 ...37 năm thống nhất!

nqv. 37 năm thống nhất! 37 năm miền Nam có đảng! 37 năm trôi qua , nhìn lại quê hương yêu dấu . Mời bạn thăm bài viết của Trần Duy Huỳnh trên dân làm báo . Có cuộc chiến nào mà hai bên không bắn giết nhau, không thù hận nhau? Tại sao chiến tranh chấm dứt lâu rồi mà lòng thù hận vẫn chưa nguôi? 37 năm đã qua. Ngày ấy, người dân hai miền, người lính hai bên nghĩ rằng từ đây anh em thôi chém giết nhau, giả từ vũ khí, tiếng súng đã ngưng và thời chết chóc đã qua. Ai không mơ ước thanh bình khi cuộc chiến dữ dội, đẫm máu đã chấm dứt? Người lính, dù đứng bất cứ bên nào thì cũng là người Việt Nam, họ chính là những người mơ ước cuộc sống thanh bình mãnh liệt nhất. Phải chi ngày ấy, đảng làm đúng lời đảng nói “giữa chúng ta không có kẻ thắng người thua, chỉ có nhân dân là người chiến thắng” (**). “Đêm chong đèn, ngồi nhớ lại, từng câu chuyện ngày xưa...” (*) Có cuộc chiến nào mà hai bên không bắn giết nhau, không thù hận nhau? Tại sao chiến tranh chấm dứt lâu rồi mà lòng thù hận vẫn chưa nguôi? 37 năm đã qua. Ngày ấy, người dân hai miền, người lính hai bên nghĩ rằng từ đây anh em thôi chém giết nhau, giả từ vũ khí, tiếng súng đã ngưng và thời chết chóc đã qua. Ai không mơ ước thanh bình khi cuộc chiến dữ dội, đẫm máu đã chấm dứt? Người lính, dù đứng bất cứ bên nào thì cũng là người Việt Nam, họ chính là những người mơ ước cuộc sống thanh bình mãnh liệt nhất. Phải chi ngày ấy, đảng làm đúng lời đảng nói “giữa chúng ta không có kẻ thắng người thua, chỉ có nhân dân là người chiến thắng” (**). Phải chi ngày ấy, đảng hàn gắn vết thương trong lòng từng người, từng gia đình, cùng nhau xây dựng lại những tan vỡ trên hai miền đất nước. Nhưng không, đảng đã say men “chiến thắng miền Nam” như thú say máu con mồi, đảng xây thêm nhà tù, dựng trại cải tạo và nhân danh kẻ chiến thắng, đập hết, phá hết, bất chấp đúng sai, hay dở. Phải chi ngày ấy, đảng đừng lấy hận thù đối xử với nhau, đừng đẩy người thua cuộc đi cải tạo không biết ngày về, đừng buộc gia đình họ đi kinh tế mới để mặc sống chết; Đừng lấy cớ cải tạo xã hội, cải tạo tư tưởng, phân chia nhân dân ra thành phần này thành phần nọ để rồi dựng lên một xã hội, mà chung quy, trong đó chỉ có hai thành phần chính là “có công” và “có tội” với cách mạng - cuộc “cách mạng vô sản” do đảng CS tiến hành từ năm 1954. 37 năm đã trôi qua, quê hương Việt Nam, dân tộc Việt Nam vẫn phải bị ngụp lặn trong vũng lầy ý thức hệ XHCN. Cùng bằng thời gian này, nước Nhật, một đất nước tan hoang sau đệ nhị thế chiến đã trở thành cường quốc thế giới. Cũng bằng thời gian này, nhiều nước ở Châu Á, nghèo hơn miền Nam Việt Nam năm 1975, đã vươn lên thành rồng. Nếu dân tộc chúng ta đừng bị áp đặt phải theo lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, cái chủ nghĩa mà ngày xưa, chính cha đẽ nó khi đến cuối đời đã muốn tìm cách chối bỏ vì tính mâu thuẫn của nó và ngày nay, bị loại người lên án là chủ nghĩa diệt chủng. Nếu đất nước chúng ta không bị ép buộc phải xây dựng XHCN, cái xã hội mà ngày nay chỉ còn rất ít người theo mà ngay chính đảng CS cũng mơ hồ không biết nó như thế nào? Nếu lời xin lỗi nhân dân của lãnh đạo đảng CS và những giọt nước mắt muộn màng của Hồ Chí Minh sau cuộc cải cách ruộng đất làm chết oan hàng trăm ngàn người miền Bắc năm 1954, đảng CS hiểu ra rằng xây dựng XH theo lối đấu tranh giai cấp và chuyên chính bạo lực của chủ nghĩa cộng sản chỉ đem đến đau thương, tan vỡ cho dân tộc thì ngày nay hiện tình đất nước có lẽ khác hơn chăng? Đảng CS không phải là những con thú hoang man rợ mà tại sao lại đối xử bất nhân với người bại trận và với chính đồng bào mình? Chỉ vì đảng CS là những con người bệnh hoạn, bệnh hoạn đến mất nhân tính do tôn thờ lý tưởng cộng sản. Lý tưởng CS đã làm cho lãnh đạo đảng CS có những suy nghĩ mê muội lệch lạc khác với suy nghĩ bình thường của con người, của dân tộc. Chính vì cùng lý tưởng CS mà đảng thờ ơ khi Trung quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Sự bệnh hoạn đó càng tăng khi đảng ra tay đàn áp những người phản đối Trung Quốc ức hiếp ngư dân. Hành động đàn áp những người yêu nước phản đối sự xâm lược của Trung quốc là hành động đàn áp truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc. Mà từ trước đến nay, thành tích của đảng không phải là phá vỡ truyền thống dân tộc hay sao? Ngày 30/4/1975, đảng CS mới là kẻ chiến thắng chứ không phải nhân dân hay những người đã hy sinh xương máu cho sự chiến thắng đó. Từ ngày ấy, đảng đã độc quyền thâu tóm mọi thứ vào tay đảng, từ tư tưởng, quyền lực chính trị đến quyền lợi kinh tế. Đảng tha hồ áp đặt, chia chác và ban bố cho những kẽ, kể cả tôn giáo mà đảng xem là thuốc phiện, nếu phục tùng đảng. Đảng có phục vụ nhân dân không? câu trả lời là KHÔNG. Hãy nhìn hiện tình đất nước hiện nay thì rõ. Nền kinh tế lạc hậu chỉ có bề nỗi và gần như hoàn toàn lệ thuộc nước ngoài. Sau 37 năm, các mặt hàng sản xuất trong nước vẫn phải lệ thuộc 80% nguyên liệu nhập khẩu. Các tập đoàn kinh tế Nhà nước sử dụng tới 45% vốn toàn xã hội nhưng chỉ để chia chác với nhau quyền lợi và quyền lực, đóng góp rất ít cho xã hội. Các tập đoàn kinh tế đó, con đẻ của đảng và nhà nước, đã thao túng nền kinh tế với sự giúp sức của cơ chế định hướng XHCN và sự che chở của lãnh đạo đảng CS, nó là nguồn tiền của lãnh đạo. Nhưng nó cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát làm cho đời sống nhân dân khốn đốn hiện nay mà chưa có cách nào khắc phục nỗi. Ngân hàng được mở ra chủ yếu là để góp vốn phục vụ các tập đoàn này, là nguyên nhân gây thiếu thanh khoản, giết chết các doanh nghiệp tư nhân, gây ra nạn thất nghiệp trầm trọng trong xã hội và làm cho nông dân thấp cổ bé miệng chịu thiệt thòi, suốt đời thiếu nợ, không thoát ra khỏi cảnh nghèo đói. Tham nhũng, nói láo và phong bì lót tay đã trở thành văn hóa giao lưu trong cuộc sống hàng ngày. Nạn cướp đất của dân tràn lan từ Nam ra Bắc không có gì kiểm soát hay kiềm chế được vì nạn phe nhóm và tham nhũng. Từ 30/4/1975, 37 năm đã trôi qua, người dân chuyển từ sống trong sợ hãi sang sống trong vừa bất an vừa sợ hãi. Bất an trong mọi lãnh vực, từ thời tiết, môi trường, văn hóa, đạo đức xã hội, chính trị, kinh tế, giáo dục, giao thông cho đến y tế. Người sống đã thế, người chết cũng không thoát ra được, những vụ cưỡng chiếm, san bằng đất nghĩa trang là một thí dụ. Ngày nay đảng CS không còn có thể đỗ thừa cho “tàn dư Mỹ Ngụy”, cho “thực dân, đế quốc” cho “cấm vận kinh tế” được nữa vì đảng biết chính đảng là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân”, nghị quyết 4 về “chỉnh đốn đảng” vừa rồi là một minh chứng cụ thể nhất. Ngày nay “cách mạng vô sản” không còn hiệu nghiệm vì đảng đã quá giàu rồi. Cái nghèo, cái khốn khổ của dân thì ai cũng biết, nhưng cái giàu của lãnh đạo đảng đang nằm ở đâu đó thì khó ai mà biết được. Lá bùa đạo đức Hồ Chí Minh thì lại bị chính lãnh đạo và đảng viên cao cấp của đảng làm phá sản. Đảng bây giờ nhìn đâu cũng thấy “phản động”, cũng thấy “nguy cơ diễn biến hòa bình”, đảng chỉ còn biết dựa vào sự gian xảo, lưu manh của bọn Mafia xã hội đen và bạo lực của công an “nhân dân” để bảo vệ mình. 37 năm thống nhất cả nước dưới sự lãnh đạo của đảng CS, đất nước Việt Nam chỉ còn là những khẩu hiệu. Một trong những khẩu hiệu thể hiện rõ nét nhất bản chất của đảng CS là khẩu hiệu “Công An Nhân Dân Còn Đảng Còn Mình”. 21/04/2012

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

Tin buồn Salzburg... nqv.


Tin buồn Salzburg


Chúng tôi nhận được tin buồn từ gia Đình anh chị Thế Salzburg , cho biết :

Anh Nguyễn văn Nam ( anh Năm) dã mất :

Ngày: 21.03.2012 tại bệnh viện Salzburg .

Tang lễ tại Nghĩa trang :

Kommunial Friedhof Salzburg
Kommunalfriedhof
Gneiser Straße 8
5020 Salzburg

Ngày : 11.04.2012

Lúc : 9 Giờ

Kính mong quí dồng hương bớt chút thì giờ đến tham dự tang lễ ,tiễn đưa người đồng hương chúng ta đến nơi an nghỉ cuối cùng .

Nguyện hương hồn người quá cố về nơi AN LẠC .

Chúng tôi chân thành chia buồn với gia đình anh Nam cũng như Anh chị Thế người đại diện lo tang lễ.

Thận hữu Salzburg . nqv.


Phần còn lại

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

5 con Két ...nqv




chuyện vui đọc cho qua ... xì hơi độc

Sau 75 , đời sống của người dân miền Nam đã có nhiều thay đồi thật ngỡ ngàng...
Thày giáo phải tháo giầy đạp xích lô, thằng bé bán báo nay làm thư ký Quận , Chị quét rác nay làm Hội đồng nhân dân ..v.v..... Và một hôm,
Tại một khu chợ bán chim, cá, cảnh.. Có một người đứng rao bán 5 con két, mỗi con 1 màu.
Con Xanh , con Đỏ, con Tím , con Vàng và con cuối cùng là con Đen
Nhưng giá cả cũng rất lạ,
Con Xanh= 5 đồng
Con Đò = 10 đồng
Con Tím = 15 đồng
Con Vàng= 20 đồng
Còn con Đen xấu xí và lù khù nhất thì giá lại cao nhất = 50 đồng
Mọi người qua lại đều thắc mắc ..Vì chưa bao giờ thấy sinh hoat của đường phố Saigon , thấy cái gì cũng lạ , một anh Bộ đội đến hỏi chuyện anh bán Két
- Này anh , tai sao giá cả lạ lùng thế ? Anh có thể giẩi thích môt tí xem nào
Anh bán Két từ tốn giải thich:Con Xanh ngoài khả năng nói tiếng Việt còn nói được tiếng Pháp nên giá 5 đồng
Con Đỏ, ngoài 2 tiếng Viet-Pháp lại nói đươc cả tiếng Anh nên giá 10 đồng
Con Tím nói thêm tiếng Nhật nên giá 15 đòng
Con Vàng nói thêm cả tiếng Đức nên giá 20 đồng...
- Thế con Đen trông nó gớm ghiếc mà sao lại bán đến 50 đồng ? Anh Bộ đội hỏi
- Tại vì anh chưa biết giá tri của con Đen đó thôi...
- Vậy nó nói đươc nhiều thứ tiếng lắm phài không ?
- Không phải dzậy đâu. Ngoài tiếng Việt ra nó chẳng biết một thứ tiếng nào hết..
- ....
NHƯNG NÓ MẮC VÌ NÓ LÃNH ĐẠO 4 CON KIA ..
- À ra thế....
-hahahahahhahaahahhahahahahha

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

Gói tiết kiệm chính phủ Áo




Gói tiết kiệm chính phủ Áo
Gói tiết kiệm có hiệu lực từ : tháng 5.2012
Chính phủ quyết định tiết kiệm 26,5 Milliarden Euro từ 2012 đến 2016. Bao gồm nhiều lãnh vực , như :
Nhân viên nhà nước :2,544 Milliarden Euro
Quỹ hưu bổng ( Pensionisten ) 7,269 Milliarden Euro
Đổi mới y tế : 1,372 Milliarden euro
Những người dưới 50 tuổi : phục hồi chức năng thay vì về hưu non .
TRừ tiền bảo hiểm xả hội nhiều hơn trên mức lương ( Erhöhung der Höchstbeitragsgrundlage bei der Sozialversicherung )
Mời bạn vào đây xem chi tiết ...Nqv
http://www.geldmarie.at/ad-hoc/12034610-sparpaket-2012-fixiert.html

Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2012

ý nghĩa Lễ Tro ...nqv


Nguồn : Ng.văn Đích


Trong Đạo Công Giáo , Có một mùa Giáo Hội hướng dẫn mọi người sửa đổi chính con người mình , đó là mùa Chay , bắt đầu vào thứ tư lễ Tro và kết thúc ngay trước thánh lễ Tiệc Ly.

Thứ Tư Lễ Tro
Việc xức tro có nguồn gốc từ thực hành thống hối công khai, một nghi thức bắt buộc dành cho các tín hữu phạm lỗi nặng hoặc làm gương xấu trước khi họ được chính thức tái hoà nhập cộng đoàn vào ngày thứ Năm Tuần Thánh, họ được xá tội và được phép rước lễ trở lại vì trước đó họ bị cấm.
Một trong những thực hành thống hối công khai này là xức tro trên đầu. Cử chỉ này thịnh hành ở Roma từ thế kỷ thứ IV và dần dần lan ra các xứ Kitô giáo, rồi nhiều tín hữu tự nguyện xức tro trên đầu để biểu lộ ý muốn thống hối. Chính các Đức Giáo Hoàng cũng đã chấp nhận nghi thức này và vào thế kỷ XI thì các ngài đã kết hợp việc thống hối này với việc bắt đầu Mùa Chay, do đó mà có tên gọi thứ Tư Lễ Tro và thực hành xức tro.
Là bụi đất, hình ảnh của tội lỗi và sự mong manh của con người, là những gì còn lại của thân xác sau khi ngọn lửa sự sống vụt tắt đi (St 3, 19; 18, 27), tro rắc trên đầu mà ngày nay người ta xức trên trán biểu lộ sự thống hối và tang chế (Is 58, 5; 61, 3; Gr 6, 26). Chính vì thống hối dưới bụi tro và áo mặc áo vải thô mà dân thành Ninivê nhận được sự tha thứ của Thiên Chúa (Gn 3)
Nguồn gốc
Nói thật ra, Mùa Chay là một thiết chế của Giáo Hội không bắt nguồn từ thời Giáo Hội sơ khai. Đối với các Kitô hữu thời các tông đồ, mỗi ngày Chúa Nhật là một cử hành biến cố phục sinh, và mãi cho đến thế kỷ thứ II mới thấy xuất hiện một ngày lễ đặc biệt dành để tưởng niệm cái chết và phục sinh của Đức Kitô để rồi sau đó biến thành Tam Nhật phục sinh (Triduum pascal): thứ Năm Tuần Thánh, thứ Sáu Tuần Thánh và Vọng Phục Sinh.
Biến cố này được chuẩn bị bằng một hay nhiều ngày ăn chay tuỳ theo miền, thường là từ chiều thứ Năm Tuần Thánh cho đến sáng ngày lễ Phục Sinh, hoặc ít ra là trong vòng 40 giờ từ lúc Chúa chịu chết cho đến thời điểm phục sinh. Đến giữa thế kỷ thứ III, ở Alexandrie việc giữ chay kéo dài suốt Tuần Thánh, và đến cuối thế kỷ III thì tại Ai Cập cũng đã xuất hiện việc giữ chay kéo dài đến 40 ngày mà mục đích trước hết dường như là sống lại thời gian chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang mạc cũng như chuẩn bị cho lễ Phục Sinh.
40 ngày
Chẳng bao lâu sau, Mùa Chay 40 ngày của người Ai Cập đã định hình như là thời gian chuẩn bị cho cái chết và phục sinh của Đức Kitô và lan rộng ra khắp Giáo Hội. Vào tiền bán thế kỷ thứ IV, ở Roma đã hình thành một thời gian chay tịnh trong 3 tuần trước khi cử hành biến cố phục sinh và vào khoảng giữa những năm 354 đến 384 họ cũng đã thêm vào 3 tuần nữa. Như vậy chính xác có 40 ngày (quadragesima) giữa Chúa Nhật mở đầu Mùa Chay cho đến khi bắt đầu Tam Nhật Thánh (Triduum).
Nhưng vì không ăn chay vào các ngày Chúa Nhật nên thực tế chỉ có 34 ngày ăn chay trong thời gian này. Cộng thêm ngày thứ Năm và thứ Sáu Tuần Thánh thì cũng chỉ có 36 ngày. Và cũng vì muốn chuẩn bị cho biến cố phục sinh bằng cách rập khuôn chính xác 40 ngày chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang mạc nên vào thế kỷ thứ VII người ta thêm vào 4 ngày còn thiếu, và từ khi ấy người ta bắt đầu Mùa Chay với thứ Tư trước Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay mà sau này trở thành thứ Tư Lễ Tro. Vào ngày này, các tín hữu ở Roma tụ họp nhau tại nhà thờ Thánh Anastasie dưới chân đồi Palatin là nơi Đức Giáo Hoàng công bố mở đầu Mùa Chay; rồi mọi người đi thành đoàn rước đến nhà thờ Thánh Sabine trên đồi Aventin để cử hành thánh lễ.
Thứ Tư Lễ Tro
Việc xức tro có nguồn gốc từ thực hành thống hối công khai, một nghi thức bắt buộc dành cho các tín hữu phạm lỗi nặng hoặc làm gương xấu trước khi họ được chính thức tái hoà nhập cộng đoàn vào ngày thứ Năm Tuần Thánh, họ được xá tội và được phép rước lễ trở lại vì trước đó họ bị cấm.
Một trong những thực hành thống hối công khai này là xức tro trên đầu. Cử chỉ này thịnh hành ở Roma từ thế kỷ thứ IV và dần dần lan ra các xứ Kitô giáo, rồi nhiều tín hữu tự nguyện xức tro trên đầu để biểu lộ ý muốn thống hối. Chính các Đức Giáo Hoàng cũng đã chấp nhận nghi thức này và vào thế kỷ XI thì các ngài đã kết hợp việc thống hối này với việc bắt đầu Mùa Chay, do đó mà có tên gọi thứ Tư Lễ Tro và thực hành xức tro.
Là bụi đất, hình ảnh của tội lỗi và sự mong manh của con người, là những gì còn lại của thân xác sau khi ngọn lửa sự sống vụt tắt đi (St 3, 19; 18, 27), tro rắc trên đầu mà ngày nay người ta xức trên trán biểu lộ sự thống hối và tang chế (Is 58, 5; 61, 3; Gr 6, 26). Chính vì thống hối dưới bụi tro và áo mặc áo vải thô mà dân thành Ninivê nhận được sự tha thứ của Thiên Chúa (Gn 3)
Linh đạo Mùa Chay
Là thời gian hoán cải dành cho hối nhân, trong những thế kỷ đầu tiên, Mùa Chay cũng là thời gian chuẩn bị cho các dự tòng chịu phép rửa để được gia nhập cộng đoàn Kitô giáo vào đêm Phục Sinh, sau khi giữ chay và tiết chế trong suốt thời gian này cũng như miệt mài cầu nguyện.
Như thế, khi khuyên nhủ các tội nhân công khai hối cải, Giáo Hội cũng khích lệ toàn thể cộng đoàn thống hối, và khi nhắn gởi với các dự tòng, Giáo Hội cũng chuẩn bị cho mọi tín hữu sống lại ân sủng phép rửa của chính mình
Khi chuẩn bị cho mọi người gặp gỡ Thiên Chúa, đối với các tín hữu, Mùa Chay đã trở thành một hành trình tiến về Thiên Chúa, một con đường vòng băng qua hoang mạc, một cuộc chiến đấu với những cám dỗ trong đời sống. Giáo Hội đề nghị chúng ta sống trọn vẹn cuộc sống Kitô hữu của chúng ta một cách nồng nhiệt hơn trong suốt mấy tuần hướng về ngày lễ Phục Sinh.
Như đoàn dân của Môisen lang thang nhiều năm dài trước khi vào Đất Hứa, chúng ta cũng khám phá ra rằng hành trình tiến về Thiên Chúa, con đường tiến về Nước Trời của chúng ta không phải là không gặp khó khăn, chướng ngại, thụt lùi, đôi khi có phản kháng nữa; thế nhưng Thiên Chúa vẫn luôn hiện diện để mang lại cho ta hy vọng và niềm tin. Khi kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô vẫn luôn trung thành với Chúa Cha trong thử thách cuối cùng, chúng ta sống kinh nghiệm cuộc vượt qua tiến về Chúa Cha qua sự sống và cái chết, chúng ta dần tiến về mầu nhiệm của Đức Kitô để hiệp thông vào đấy một cách sâu xa hết sức có thể.
Làm thế nào để diễn dịch cách cụ thể cuộc hành huơng tiến về với Thiên Chúa mà mỗi Kitô hữu được mời gọi trong suốt thời gian Mùa Chay này? Đã có câu trả lời được lập đi lập lại qua các bản văn phụng vụ ngày Chúa Nhật (và những ngày khác) trong thời gian chuẩn bị cho biến cố phục sinh: các bài đọc Tin Mừng cũng như Kinh Tiền Tụng đã dành ưu tiên cho bộ ba này: cầu nguyện, ăn chay và chia sẻ.

Cầu nguyện

Là khoảng không ngút mắt nơi không có sự sống, hoang mạc mà dân của Giao Ước cũ và chính Đức Kitô đã đi qua đưa chúng ta đến yếu tính của đời sống, dẫn chúng ta gặp gỡ với Hữu Thể độc nhất, cội nguồn cho hiện hữu của chúng ta: Thiên Chúa. Là nơi chốn gợi lên sự vô cùng của Thiên Chúa, chính trong hoang mạc mà Charles de Foucauld đã tận hiến hoàn toàn cho Ngài qua lời cầu nguyện. Như thế, hoang mạc và Mùa Chay là nơi chốn và thời gian để gặp gỡ Chúa trong lời cầu nguyện.
Qua lời cầu nguyện, đời sống chúng ta hướng về Thiên Chúa, chúng ta để cho Chúa Thánh Thần uốn nắn mình theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá để trở nên sẵn sàng cho Đức Kitô và cho anh em. Cầu nguyện là "lương thực hằng ngày" nuôi sống chúng ta bằng tình yêu của Thiên Chúa, không có nó tâm hồn chúng ta có nguy cơ xa rời ý muốn của Chúa Cha.
Theo gương các dự tòng vào những thế kỷ đầu tiên đã toàn tâm toàn ý cầu nguyện cách quảng đại và thực tâm, theo gương Đức Kitô lui vào trong cô tịch của hoang mạc Giuđa, chúng ta hãy biến Mùa Chay thành một thời gian gặp gỡ Chúa, chiêm niệm và tạ ơn, ngợi ca Danh Thánh Chúa và biến đổi tâm hồn.
2. Ăn chay
Là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, đối với dân Israel cũng như đối với Đức Kitô, hoang mạc đồng thời cũng là thời gian thử thách, là trận chiến chống lại thế lực sự dữ để không nhường bước trước thú vui, điều choáng ngợp và quyền lực, ba thần tượng mà con người thường hy sinh tất cả để đạt cho được. Những cám dỗ này không ngừng quấy nhiễu chúng ta và là nguồn gốc nhiều sự dữ, ngay từ khi xuất hiện Mùa Chay, việc từ bỏ những cơn cám dỗ này được diễn dịch bằng việc ăn chay, một thực hành rất đòi hỏi nhưng lại đạt được nhiều kết quả thiêng liêng. Khi giảm thiểu những nhu cầu sống để chỉ giữ lại những gì thiết yếu, việc ăn chay giúp chúng ta trở nên những người nghèo khó trong tâm hồn (xem Các Mối Phúc), nghĩa là thành những con người cần đến Thiên Chúa, nhường cho Ngài một chỗ trong đời sống mình, người nghèo trong Tin Mừng là những người đặt hết niềm hy vọng vào Chúa, háo hức gặp gỡ với Đức Kitô. Như vậy sự khổ hạnh và từ bỏ mọi sự rất cần thiết để Thánh Thần Thiên Chúa xâm chiếm lấy con người mình.
Nếu chay tịnh trước hết có nghĩa là từ bỏ của ăn thì trong ý nghĩa tận căn hơn nữa ăn chay cũng có nghĩa là từ bỏ tính ích kỷ, tính cứng đầu và lòng tham lam của chúng ta: "Đây là những điều bạn phải thực hành khi muốn ăn chay. Trước hết, hãy xa lánh mọi lời nói và ước muốn xấu xa, thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi thứ hư không đời này. Nếu giữ được điều đó, việc ăn chay của bạn sẽ nên hoàn hảo. Sau khi hoàn tất những gì tôi đã viết trên đây, vào ngày ăn chay, bạn không ăn gì ngoại trừ bánh mì và nước lã và rồi hãy tính toán giá lương thực mà bạn thường ăn trong ngày ấy, bạn dành tiền ấy để cho quả phụ, cô nhi hoặc người nghèo ... Nếu bạn ăn chay theo như những điều tôi khuyên nhủ trên đây, hy sinh của bạn sẽ được Thiên Chúa chấp nhận" (Le Pasteur d'Hermas).
3. Chia sẻ
Ngay từ thế kỷ thứ II, việc ăn chay đã có khuynh hướng chia sẻ như là một phương tiện giúp đỡ những ai đang túng thiếu để chúng ta có thể tiến đến gần Thiên Chúa hơn. Thánh Cyprianô thành Carthage vào thế kỷ thứ III cũng đã để lại những dòng chữ rất thuyết phục về chủ đề này: "Những người giàu có và dư dật ... bạn sẽ trở nên vàng ròng khi tinh luyện mình qua các công việc vì đức công bình và làm bố thí ... Hãy xem trong Tin Mừng, một bà goá nghèo đã đi vào trong lời dạy của Thiên Chúa khi bà bố thí giữa lúc thất vọng và túng bấn. Bà ném vào trong thùng tiền hai đồng xu cuối cùng. Chúa đã lưu ý và nhấn mạnh về tấm lòng quảng đại của bà và nói: "Bà goá này đã dâng cho Thiên Chúa nhiều hơn mọi người khác" ... Đức Giêsu Kitô muốn chúng ta hiểu rằng của bố thí của chúng ta sẽ đến với chính Thiên Chúa và rằng những ai bố thí thì đẹp lòng Chúa".
Chia sẻ cũng là tình yêu tha nhân, nhìn nhận người khác như đồng loại của mình, nhận ra Đức Kitô trong những người anh em hèn mọn nhất. Đây là biểu hiện tình yêu Thiên Chúa của chúng ta và không thể được diễn dịch đơn thuần chỉ bằng một phong trào cứu trợ hay phong trào đoàn kết nào đó. Qua sự thiếu thốn và chia sẻ, chúng ta đáp ứng được giới răn kép của tình yêu: "Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi và yêu tha nhân như chính mình".
Ghi chú:
Khi nói về việc ăn chay, mãi cho đến thế kỷ thứ IX, tất nhiên là việc giữ chay nghiêm nhặt hơn ngày nay nhưng không phải là các tín hữu cả ngày không ăn uống gì. Thật ra, người ta phân biệt:
- Ăn chay đơn giản, kiêng mọi thứ thịt, cả trứng, phômai, bơ và sữa. Việc ăn chay này kéo dài suốt Mùa Chay, trừ các ngày Chúa Nhật.
- Ăn chay nhặt một vài ngày nào đó trong thời gian này, nhất là thứ Sáu và thứ Bảy Tuần Thánh. Trong những ngày này người ta chỉ dùng một bữa ăn nhẹ duy nhất trong ngày.
Hiện nay, Giáo Hội chỉ buộc kiêng thịt vào các ngày thứ sáu của Mùa Chay, ăn chay cùng với kiêng thịt vào các ngày thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh. "Luật kiêng thịt buộc những người đã 14 tuổi trọn. Luật ăn chay buộc hết mọi người đã đến tuổi trưởng thành cho tới lúc bắt đầu 60 tuổi" (Giáo luật điều 1252).
Nhưng trọn Mùa Chay vẫn là thời gian thống hối, các ngày thứ Sáu khác trong năm cũng vậy. Trong những ngày này, "Các tín hữu chú trọng đặc biệt đến sự cầu nguyện, thi hành việc đạo đức và việc bác ái, từ bỏ bản thân, bằng cách chu toàn các bổn phận riêng và nhất là bằng cách giữ chay và kiêng thịt" (Giáo luật điều 1249). Việc giữ chay và kiêng thịt cũng có thể được thay thế bằng các hình thức thống hối khác do Hội Đồng Giám Mục quy định (Giáo luật điều 1253).
Phụng vụ
Sự thống hối của Mùa Chay được biểu lộ ra bên ngoài qua màu lễ phục phụng vụ (màu tím) và không đọc kinh Allêluia và kinh Vinh Danh trong thánh lễ và các giờ kinh. Ngày xưa, việc đánh đàn trong nhà thờ hoàn toàn bị bãi bỏ trong thời gian này, ngày nay người ta hết sức giảm thiểu, chỉ đệm đàn để hát.
Một nốt nhạc vui đột nhiên cắt ngang những ngày thống hối này: đó là ngày Chúa Nhật Vui (Laetare), hay Chúa Nhật thứ tư Mùa Chay với lễ phục màu hồng thay cho màu tím. Nguyên thuỷ của ngày này được tìm thấy trong nghi thức trao ban Tín biểu đức tin (kinh Tin Kính) cho các dự tòng vào ngày thứ Tư sau Chúa Nhật thứ tư Mùa Chay. Vì thế, niềm vui của Giáo Hội đã được biểu lộ trong phụng vụ ngay từ ngày Chúa Nhật vì mình sắp được thâu nhận những tín hữu mới. Lý do thật sự của ngày Chúa Nhật Vui (Laetare) - mà tên gọi xuất phát từ ca nhập lễ trong ngày này (Laetare Jerusalem - Hãy vui lên hởi Giêrusalem) - sau đó đã bị lãng quên để rồi mang lấy một ý nghĩa khác là "để an ủi cho các tín hữu khỏi bị ngã lòng nản chí vì nỗ lực kéo dài trong Mùa Chay và giúp họ tiếp tục chịu đựng những hạn chế với tâm hồn thanh thản và nhẹ nhàng" (Giáo Hoàng Innôcentê III, 1216).

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

Vô thường , vô ngã , khổ ... nqv

NQV: Vô thường là không thường hằng , luôn biến đổi và vô ngã là không có Ngã nói cho dễ hiểu là không có cái tôi ? thì "cái gì" đau khổ? "cái gì" suy tư? "cái gì" giác ngộ? "cái gì" nhập Niết Bàn?" một nhà Phật học chân chính chỉ mĩm cười, im lặng; họ gọi là thái độ niêm hoa vi tiếu, "cầm hoa mỉm cười" đây là một giai thoại thiền, ghi lại sự kiện Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đưa cành hoa lên khai thị, tôn giả Ca Diếp phá nhan mỉm cười. .
Vì đời là vô thường , con người thì vô ngã , nên người ta dễ dàng bước qua trạng thái "vô cảm " dửng dưng trước những bất công của xả hội ... mặc kệ nó ...

Mời bạn ghé thăm bài của :

Trần Việt Trình (Danlambao)


Đó là bức ảnh đăng cùng một câu chuyện được lan truyền rộng rãi và gây xôn xao trên internet ở trong nước cũng như ở hải ngoại vào cuối năm rồi, một câu chuyện thật cảm động tạo cho mỗi chúng ta nhiều suy nghĩ.

Câu chuyện như sau:

Ăn rau không chú ơi?

Một giọng khàn khàn, run run làm gã giật mình. Trước mắt gã, một bà cụ già yếu, lưng còng cố ngước lên nhìn gã, bên cạnh là mẹt rau chỉ có vài mớ rau muống xấu mà có lẽ có cho cũng không ai thèm lấy.

- Ăn hộ tôi mớ rau...!

Giọng bà cụ vẫn khẩn khoản. Bà cụ nhìn gã ánh mắt gần như van lơn. Gã cụp mắt, rồi liếc xuống nhìn lại bộ đồ công sở đang khoác trên người, vừa mới buổi sáng sớm. Bần thần một lát rồi gã chợt quay đi, đáp nhanh: Dạ cháu không bà ạ! Gã nhấn ga phóng nhanh như kẻ chạy trốn. Gã chợt cảm thấy có lỗi, nhưng rồi cái cảm giác ấy gã quên rất nhanh. "Mình thương người thì ai thương mình" cái suy nghĩ ích kỷ ấy lại nhen lên trong đầu gã.

- Ăn hộ tôi mớ rau cô ơi! Tiếng bà cụ yếu ớt.

- Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn!

Tiếng chan chát của một cô gái đáp lại lời bà cụ.

Gã ngoái lại, một cô gái cũng tầm tuổi gã. Cau mày đợi cô gái đi khuất, gã đi đến nói với bà:

- Rau này bà bán bao nhiêu?

- Hai nghìn một mớ. Bà cụ mừng rỡ.

Gã rút tờ mười nghìn đưa cho bà cụ.

- Sao chú mua nhiều thế?

- Con mua cho cả bạn con. Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều con về qua con lấy!

Rồi gã cũng nhấn ga lao vút đi như sợ sệt ai nhìn thấy hành động vừa rồi của gã. Nhưng lần này có khác, gã cảm thấy vui vui.

Chiều hôm ấy mưa to, mưa xối xả. Gã đứng trong phòng làm việc ngắm nhìn những hạt mưa lăn qua ô cửa kính và theo đuổi nhưng suy nghĩ mông lung. Gã thích ngắm mưa, gã thích ngắm những tia chớp xé ngang trời, gã thích thả trí tưởng tượng theo những hình thù kỳ quái ấy. Chợt gã nhìn xuống hàng cây đang oằn mình trong gió, gã nghĩ đến những phận người, gã nghĩ đến bà cụ...

- Nghỉ thế đủ rồi đấy!

Giọng người trưởng phòng làm gián đoạn dòng suy tưởng của gã. Gã ngồi xuống, dán mắt vào màn hình máy tính, gã bắt đầu di chuột và quên hẳn bà cụ.

Mấy tuần liền gã không thấy bà cụ, gã cũng không để ý lắm. Gã đang bận với những bản thiết kế chưa hoàn thiện, gã đang cuống cuồng lo công trình của gã chậm tiến độ. Gã quên hẳn bà cụ.

Chiều chủ nhật gã xách xe máy chạy loanh quanh, gã vẫn thường làm như vậy và có lẽ gã cũng thích thế.

Gã ghé qua quán trà đá ven đường, nơi có mấy bà rỗi việc đang buôn chuyện.

Chưa kịp châm điếu thuốc, gã chợt giật mình bởi giọng oang oang của một bà béo:

- Bà bán rau chết rồi.

- Bà cụ hay đi qua đây hả chị? Chị bán nước khẽ hỏi.

- Tội nghiệp bà cụ! một giọng người đàn bà khác.

- Cách đây mấy tuần bà cụ giở chứng cứ ngồi dưới mưa bên mấy mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng nhất quyết không bán, rồi nghe đâu bà cụ bị cảm lạnh.

Nghe đến đây mắt gã chợt nhòa đi, điếu thuốc chợt rơi khỏi môi.

Bên tai gã vẫn ù ù giọng người đàn bà béo kia...

Gã không ngờ.........!

Câu chuyện trên đây có thể thật, có thể không, nhưng bức ảnh rất thực. Một bức hình không thể nào tạo dựng được. Nhìn vào bức hình chúng ta thấy ngay một bà cụ già lụm khụm, lưng còng, tuổi đã quá lớn, ngồi ủ rủ bên lề đường với vốn liếng buôn bán chỉ là một nhúm rau.

Đọc qua, chúng ta thấy ngay câu chuyện xảy ra ở trong nước, người viết là người trong nước, và hẳn nhiên được phát đi từ trong nước. Câu chuyện này nói lên được điều gì?

Thứ nhất, bức hình nói lên được hiện thực một góc cạnh cuộc sống của xã hội VN ngày nay. Trong một xã hội nhiễu nhương và giàu nghèo quá cách biệt hiện nay, một bà lão tuổi đã quá cao, sức khoẻ không còn, cũng phải bươn chải buôn bán để mưu sinh thay vì được ở nhà hưởng tuổi già vui vầy cùng con cháu.

Thứ hai, câu chuyện nêu lên được cái vô tình, đưa ra được căn bệnh “vô cảm” đang hoành hành mãnh liệt trong xã hội VN ngày nay. Thấy một bà cụ tuổi đã quá lớn, đáng là bà ngoại bà nội của mình, còn phải tảo tần mua bán kiếm sống, vậy mà một cô gái qua đường đã không rung động được lòng nhân mà còn ong ỏng mắng “Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn!”.

Thứ ba, bà cụ già tuy rất nghèo về vật chất nhưng giàu về chữ tín, lòng tự trọng, tính nhẫn nại và đức hy sinh. Rau đã bán và người thanh niên hứa cuối ngày sẽ trở lại lấy nên bà cụ già nhất mực ngồi chờ đợi dưới cơn mưa, không bỏ về và ai mua giúp cũng không bán. Có lẽ do vậy mà bà cụ bị cảm lạnh và qua đời.

Trong bốn cái hỷ-nộ-ái-ố của con người, câu chuyện ngắn trên đây có đủ ba yếu tố cuối: nộ, ái và ố. Chử hỷ không tìm thấy được qua câu chuyện. Chữ hỷ ngày nay dường như là một cái gì đó xa vời với đời sống người thường. Nó như một cái gì xa hoa, chỉ được tìm thấy trong thế giới của những kẻ cầm quyền, những kẻ nắm quyền lực trong tay, những kẻ ăn trên ngồi tróc và thừa bạc lắm tiền. Quê hương Việt Nam của tôi ngày nay là thế đó.

21 tháng 2 năm 2012


Trần Việt Trình
danlambaovn.blogspot.com

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

Thuyền nhân ( boat people ) ... nqv


người quét vườn :Từ 30.04.1975 làn sóng chạy trốn chế độ cộng sản Việtnam đã làm một số quốc gia tự do trên thế giới kinh hoàng , họ đã cho những người đó một cái tên " boat people" .
Nước Áo theo chương trình tị nạn của Liên Hiệp Quốc đã mở rộng cánh tay đón nhận người Việt từ các đảo , tạo cuộc sộng mới cho thuyền nhân ...
Hôm nay sống trên đất nước tự do , thuyền nhân bảnh bao , áo gấm về làng , bạn vẩn còn là thuyền nhân trong tâm hay đã mất khi chạy theo bạo lực , một chế độ đã xô đẩy bạn đến đường ...
Bia tưởng niệm thuyền nhân:


nguồn gxvn.stuttgart








Bia tưởng niệm tại chùa Khánh Anh Pháp


thụy sĩ

Mời bạn bấm vào đây , nơi này bạn đã tới .

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

Cậu bé bán thuốc lá dạo...


hình của Vũ Anh Tuấn

Cậu bé bán thuốc lá dạo ở VN trở thành nhà khoa học tài giỏi ở Mỹ . Nếu cậu ta không vượt biên qua Mỹ , để có môi trường thực hiện giấc mơ ... thì ở Việt Nam cậu ta sao địch lại "đỉnh cao trí tuệ" ...nqv
Cậu bé bán thuốc lá dạo ở VN trở thành nhà khoa học tài giỏi ở Mỹ

Một nhà khoa học thành danh ở Mỹ với nhiều công trình nghiên cứu và hằng trăm bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế xuất thân từ một cậu bé bán thuốc lá dạo ở chợ Gò Vấp, Sài Gòn. Câu chuyện của Giáo sư-Tiến sĩ Hóa học Trương Nguyện Thành hiện đang giảng dạy tại trường đại học Utah, Hoa Kỳ, là niềm hãnh diện của người Việt trên trường quốc tế và là tấm gương đáng khâm phục để giới trẻ Việt Nam noi theo.Năm 11 tuổi, cậu bé Thành đã bắt đầu bươn chải, dãi dầu mưa nắng để kiếm tiền phụ mẹ nuôi 9 anh chị em sau khi cha mình bị liệt bán thân. Ngày ngày, sau giờ tan trường từ giữa trưa đến tận 9, 10 giờ đêm, cậu bé rong ruổi với thùng thuốc lá trên vai đi bán dạo quanh bến xe lam chợ Gò Vấp. Năm 1976, khi Việt Nam mở chiến dịch đưa cư dân ra các vùng kinh tế mới xa xôi, hẻo lánh, gia đình Thành chuyển xuống Lái Thiêu xoay sở tậu được một miếng ruộng nhỏ và một cặp trâu. Ở tuổi 15, Thành bỏ nghề bán thuốc lá dạo để chuyển sang đi cày thuê cuốc mướn. Việc học của cậu bé bị cản trở và chi phối rất nhiều bởi công cuộc mưu sinh vất vả hằng ngày, nhưng ý chí quyết tâm theo đuổi con đường học vấn để đổi đời đã vun đúc trong lòng cậu bé từ rất sớm.

Tiến sĩ Thành chia sẻ:

“Tôi có tư duy thích học, những lúc rảnh rỗi, tôi thường lấy sách đọc. Chỉ có môn toán là tôi học được vì không đòi hỏi tập trung nhiều. Cứ rảnh là tôi ngó qua một cái rồi để cái đầu tôi làm việc. Tôi được sự dạy dỗ của ông nội và ba tôi. Họ thường khuyên rằng học vấn là con đường ngắn nhất để đưa một người không có gì tới thành công.”

Tới năm học lớp 12, con đường học vấn của cậu bé nghèo, lam lũ bắt đầu rẽ bước ngoặt, xuất phát từ một đáp án dí dỏm của Thành trước câu hỏi của thầy đố các học sinh giỏi. Ấn tượng trước sự thông minh của Thành, người thầy đã soạn đưa cho cậu bé một số sách để tham khảo.

Giáo sư Trương Nguyện Thành kể lại:

“Năm 1979, Việt Nam lần đầu tiên tổ chức kỳ thi toán toàn quốc. Thầy tôi có đem mười mấy cuốn sách cho tôi mượn, bảo tôi đọc cho biết rồi tới dự lớp thầy dạy cho các học sinh giỏi dự thi toán. Tôi rất cảm động trước nghĩa cử này. Mỗi tối sau giờ làm ruộng, tôi đốt đèn dầu đọc sách từ 9 giờ tới 12 giờ đêm. Thời điểm đó, ở Việt Nam, hạnh kiểm là vấn đề khá quan trọng. Hạnh kiểm tôi tương đối xấu nên cô hiệu trưởng không cho tôi đi thi học sinh giỏi toán. Ông thầy lén đưa tôi đi theo đội tuyển, may quá tôi thi đậu. Tỉnh Bình Dương lúc đó chọn khoảng 30-40 em học sinh giỏi toán lên trên tỉnh học chuyên toán trong 3 tháng. Sau 3 tháng, họ tuyển lại lấy 5 em. Tôi cũng may mắn lọt vào trong 5 em đó. Cũng vì thế, ba tôi nhận ra rằng tôi có tiềm năng. Từ lúc đó, ông khuyên tôi nên nghỉ đừng đi cày thêm mà tập trung học. Và từ đó, ông tìm cách cho tôi ra nước ngoài.”

19 tuổi, sau khi thi đậu vào đại học Bách Khoa, chàng thanh niên Trương Nguyện Thành vượt biên sang Mỹ. Sau 1 năm ở trung học với những khó khăn bước đầu về ngôn ngữ, anh từ giã gia đình bảo trợ người Mỹ để bắt đầu cuộc sống tự lập ngay từ năm thứ nhất đại học. Để trang trải sinh hoạt phí trong thời đèn sách, phần đông các bạn trẻ ở đây thường phụ việc ở nhà hàng, tiệm giặt ủi, hay đi giao báo. Riêng trường hợp của Thành, anh tìm đến một người thầy và xin được theo chân làm việc trong phòng thí nghiệm để bắt đầu công việc nghiên cứu ngay từ năm đầu đại học, một công việc thường bắt đầu ở bậc cao học. Số tiền kiếm được đủ trang trải các khoản chi phí hết sức tiết kiệm hằng ngày. Còn học phí của anh chủ yếu nhờ các khoản vay từ nguồn quỹ dành cho sinh viên và các phần học bổng của chính phủ. Sau 4 năm đại học, anh ra trường với bằng cử nhân hóa học cùng với 4 văn bằng phụ về lý, toán, công nghệ thông tin, và thống kê.

Tốt nghiệp đại học, anh đi thẳng vào chương trình tiến sĩ. Trong thời gian nghiên cứu hậu tiến sĩ, anh dành được học bổng của Qũy Khoa học Quốc gia dành cho các tiến sĩ trẻ có tiềm năng vì lúc tốt nghiệp tiến sĩ, anh đã có 16 bài nghiên cứu trong khi trung bình một tiến sĩ khi ra trường xuất bản chừng 4-5 bài nghiên cứu. Năm 1992, anh về làm Giáo sư hóa cho trường đại học Utah. Một năm sau, anh được chọn là 1 trong những nhà khoa học trẻ nhiều triển vọng của Hoa Kỳ, với giải thưởng 500 ngàn đô la cho công tác nghiên cứu. Năm 2002, anh được cấp bằng Giáo sư Cao cấp, tức bậc cao nhất trong 3 cấp Giáo sư của Mỹ.

Những yếu tố nào giúp một cậu bé lam lũ, nghèo khó từng bán thuốc lá dạo, cày thuê cuốc mướn ở đáy xã hội Việt Nam lột xác, đổi đời thành một nhà khoa học danh tiếng tại Mỹ?

Giáo sư-Tiến sĩ Trương Nguyện Thành cho biết:

“Người đó có tiềm năng trời phú. Thứ hai, có môi trường giúp họ phát triển. Thứ ba, người đó có nhận thức được rằng mình có cơ hội đó hay không.

Tiềm năng chỉ là khả năng, muốn đạt được thành công đòi hỏi phải có môi trường để phát triển. Môi trường không cho phép người đó phát triển, thì cũng không làm được. Điển hình là người Việt ở Mỹ hay ở nước ngoài thành công rất cao, thế nhưng tại sao ngay tại Việt Nam không có những ngôi sao như vậy?


Khi tôi bước chân vào trung học ở Mỹ, có một cậu vượt biên cũng giống trường hợp như tôi, đi một mình, được một gia đình Mỹ bảo lãnh. Cậu ta cũng ở gần nhà tôi. Khi tới Mỹ, tôi và cậu ấy có cùng một cơ hội như nhau. Tôi cố gắng hơn, tôi vào đại học. Còn cậu ta làm việc cho một hãng gà Tây, kiếm tiền liền. Một năm sau, tôi về lại làng thăm ba mẹ nuôi và ghé thăm thằng bạn. Công việc nó làm chỉ đứng móc ruột gà Tây thôi, chờ con gà chạy qua, đưa tay vào móc ruột gà ra. Nó khoe với tôi nó có được chiếc xe hơi. Còn tôi lúc đó vẫn chưa có gì. Sau 4 năm đại học, tôi trở về, anh bạn vẫn còn móc ruột gà Tây. Anh đã có được một căn hộ, có TV lớn, dàn máy xịn, xe hơi sports. Còn tôi vẫn chỉ một thùng sách quèn. Sau 5, 6 năm sau, tôi trở về, cậu bạn vẫn còn làm chỗ cũ nhưng cho biết phải đổi nghề vì đau nhức xương khớp tay do làm việc ở phòng lạnh. Lúc đó, tôi sắp ra tiến sĩ. Đó là cái điều kiện thứ 3 mà tôi muốn nói: người có tiềm năng, có môi trường, mà không nhận thức được cơ hội của mình và quyết tâm đạt được cơ hội đó. Thật sự, tôi không có xe hơi, không có bạn gái, không có tình phí, ở nội trú, ăn mì gói. Cho nên, chi phí tôi rất ít. Tôi làm việc trong phòng nghiên cứu chỉ đủ sống. Tôi ra đại học trong túi chỉ có 200 đô la, nợ nhà nước khoảng 15 ngàn đô la (mỗi năm khoảng 3-4 ngàn tiền học phí cộng với tiền phụ thêm để sống), cùng một thùng sách và một giỏ quần áo cũ.”

Thành công ở xứ người, Giáo sư Thành trở lại Việt Nam, giúp thành lập Viện Khoa học Công nghệ Tính toán TP.HCM bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2009. Vừa tiếp tục giảng dạy tại trường đại học Utah ở Mỹ, vừa giúp điều hành Viện nghiên cứu tại Việt Nam, Viện trưởng Trương Nguyện Thành nói về công việc của mình:

“Điều khiển một viện nghiên cứu từ xa rất khó. Cho nên, có một viện trưởng tại Việt Nam chuyên lo các vấn đề hằng ngày như làm việc với chính phủ, hợp đồng, hay mướn người. Còn tôi phụ trách chiến lược phát triển về khoa học, kêu gọi những người khác về giúp phát triển.”

Ngoài ra, cá nhân ông còn nhận bảo trợ cho các sinh viên giỏi từ Việt Nam sang Mỹ du học bằng chính nguồn quỹ nghiên cứu của ông. Đích thân Giáo sư Thành đứng ra phỏng vấn tuyển chọn người tài, và từ năm 2001 tới nay, ông đã tài trợ cho trên dưới 20 sinh viên Việt Nam sang Mỹ học tập, nghiên cứu. Trong số này có nhiều người đã trở về giúp ông phát triển Viện nghiên cứu tại Việt Nam.

Tiến sĩ Trương Nguyện Thành tâm sự:

“Thời còn đi cày mướn, lời nguyền của tôi là nếu tôi thành công, tôi sẽ đem cơ hội đó cho lại những người khác. Đó là tâm nguyện của tôi lúc còn ở đáy xã hội Việt Nam. Tôi thường nói chuyện với học trò của tôi khi họ tới cảm ơn tôi đã cho họ cơ hội. Tôi bảo họ không cần cảm ơn tôi. Điều họ có thể trả ơn tôi là đem cơ hội đó cho một vài người khác. Chính vì vậy, một số đệ tử của tôi về lại Việt Nam, giúp tôi lập Viện. Tôi gieo những hạt giống và từ đó sẽ nhân thành những hạt giống khác. Một con én không làm nên nổi mùa xuân. Tôi chỉ là người mở đường. Những người khác bước chân theo, làm cho con đường rộng ra, nhẵn thêm, dễ đi hơn.”

Giáo sư Thành nói ai cũng mơ ước thành công, nhưng chỉ có những người chịu khó nỗ lực mới tới được đích đến:

“Tôi chỉ có một lời nhắn nhủ với các sinh viên ở Việt Nam rằng trên đời cái gì cũng có giá phải trả. Nếu muốn thành công, phải chấp nhận trả cái giá đó. Thành công là một con đường đi chứ không phải là một điểm đích. Tôi không nói tôi đã thành đạt điều gì, chỉ là một con đường mà khi quay lại tôi thấy tôi đã đi được rất xa rồi.”

Con đường thành công của Giáo sư -Tiến sĩ Trương Nguyện Thành trải qua bao nhiêu năm gian nan, thử thách. Cậu bé bần cùng, lam lũ ở Việt Nam qua đến Mỹ cũng đã nếm trải bao nhiêu những thiếu thốn, khó nhọc để có được vị trí đáng nể như ngày hôm nay. Đó là nhờ sự quyết tâm vượt khó vươn lên, sẵn sàng trả giá cho con đường đã chọn.

Qúy vị và các bạn có những câu chuyện thành công muốn chia sẻ với các bạn trẻ Việt Nam qua Tạp chí Thanh Niên của đài VOA, email số phone về địa chỉ vietnamese@voanews.com, Trà Mi rất hân hạnh được giới thiệu những tấm gương thành công của người Việt khắp nơi.

Tạp chí Thanh Niên hẹn tái ngộ cùng quý vị và các bạn trong một câu chuyện mới vào giờ này, tuần sau. Rất mong được đón tiếp quý vị và các bạn hằng tuần trên làn sóng phát thanh của đài VOA và trên trang web voatiengviet.com, trong phần Chuyên mục đặc biệt, ngay trang chính.
http://www.voanews.com